Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Chuyên đề

  • Cá nghe kinh
    Cá nghe kinh

    Chu Mạnh Trinh là khách hành hương tới Hương Sơn để hưởng thú “bầu Trời, cảnh Bụt”; nhưng thật ra là đang viếng cảnh biển xanh biến thành nương dâu đang hiện tướng trong tâm thức của chính mình. Chim ríu rít cúng dường hoa trái. Cá lặng lờ ngừng vẫy nghe kinh là khi Tâm Kinh biến thành Chân Kinh. Nguyễn Du cũng đã qua bao nhiêu trải nghiệm thăng trầm của thế sự, nhưng mãi tới khi về lại với chính mình mới tìm được Chân Kinh:

  • Kinh điển Đại thừa có phải do Phật thuyết hay không
  • Sự xuất hiện Kinh điển Đại thừa

    "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. ....

  • Tam Tạng Kinh điển

    Trong 45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia

Bài Nghiên Cứu

Ba học: Giới - Định - Tuệ (Hết)

Sanskrit gọi là prajñā, Pāli gọi là paññā, Trung Hoa dịch âm là Bát-nhã, có nghĩa là suy lý, là chỉ khả năng suy lý phán đoán mọi tác dụng tinh thần đối với sự vật và lý tính, là tên của tâm sở, là một trong bảy mươi lăm pháp theo Câu-xá luận, hay là một trong một trăm pháp theo Duy thức, là phần học cuối của ba học. Vì Tuệ có khả năng thứ nhất là hiển lộ bổn tánh xưa nay của chúng sanh, thứ hai là có khả năng lựa chọn đoạn trừ các loại phiền não vô minh và cuối cùng, có khả năng thấy rõ thật tướng của chư Phật, cho nên Tuệ thông cho cả ba tánh thiện, bất thiện và vô ký. Nếu là ác tuệ thì gọi là ác kiến, là một trong năm kiến; nếu là thiện tuệ thì gọi là chánh kiến, chánh tuệ.

Ba học: Giới - Định - Tuệ (Hết)

Tuệ
 
Theo Bát thánh đạo thì tuệ chỉ cho chánh kiến và chánh tư duy.  Hành giả nào phụng hành Bát thánh đạo thì không bao lâu sẽ chứng đắc quả A-la-hán, tức là có khả năng đạt được mười pháp vô học. Mười pháp vô học này ngoài tám pháp vô học Bát Thánh đạo thì cộng thêm Chánh giải thoát và Chánh trí thành ra mười pháp vô học. Hai pháp này cũng thuộc vào tuệ học của vô học. Ngoài ra, nói theo tương đối thì tuệ với trí cùng chung danh, đối với tướng trí hữu vi thì gọi là trí, nhưng đối với lý không của vô vi thì gọi là tuệ. 

Câu xá luận 26 cũng nói tuệ được chia ra hai loại hữu lậu tuệ và vô lậu tuệ. Loại tuệ thứ nhất cùng với pháp phiền não tương quan mật thiết với nhau không thể nào thoát ly được, chúng hỗ tương quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau và tùy thuộc vào nhau, mang tính chất của trí hơn là tuệ nên chúng ta thường nghe đức Phật bảo những người có đôi chút biện tài trong lý luận câu hữu với vô minh, tuệ vô ngại tại thế gian gọi là thế trí biện thông. Loại tuệ thứ hai được gọi là Thánh tuệ là do nhờ nghe pháp mà có được nên gọi là văn tuệ, hoặc do nhờ tư duy khảo xét mà có được thì gọi là tư tuệ, hay do tu tập theo pháp Phật mà có được thì gọi là tu tuệ; ba loại này gọi chung là ba tuệ văn-tư-tu. 

Ba loại tuệ này nếu đem cộng thêm với tuệ di truyền từ kiếp trước sinh ra có được gọi chung tứ tuệ. Căn cứ vào Bồ-tát Anh Lạc Bồn nghiệp kinh quyển thượng, trong giai đoạn Bồ-tát hành, trí tuệ có thể phân ra làm sáu loại tức là ba tuệ văn-tư-tu cùng với vô tướng tuệ (đã chứng ngộ Không-vô tự tánh), chiếu tịch tuệ (dùng tuệ của trung đạo quán chiếu thấy lý trung đạo) và, tịch chiếu tuệ (là tịch và chiếu không phải hai, định tuệ bình đẳng). Tùy theo thứ lớp mà cùng với sáu vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác mà phối hợp nhau trong thực hành. Ngoài ra, trong mười trí thì trí ban đầu, tức là thế tục trí, thuộc về tuệ hữu lậu, còn chín trí kia như Pháp trí, Loại trí, Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí, Tha tâm trí, Tận trí và Vô sanh trí là thuộc về tuệ vô lậu.

 
Đứng về mặt tác dụng của tuệ mà nói thì, theo Câu xá luận 26,  tuệ có những tác dụng tùy thuộc vào mỗi thuộc tính của các pháp mà có ý nghĩa tác dụng khác nhau như kiến, nhẫn, trí. Kiến thuộc nghĩa so sánh lựa chọn, tức là tìm cách so sánh tác dụng đúng sai của mọi sự vật. Nhẫn, có nghĩa là chấp nhận, tức là xác nhận mọi sự vật tất cả là như vậy. Trí, có nghĩa là quyết đoán, tức là chỉ cho tác dụng quyết đoán hoàn toàn dứt hết tâm nghi ngờ. Cũng theo luận Đại Tỳ-bà-sa 42 thì, tuệ có khả năng phân biệt tự tướng các pháp, cũng có khả năng phân biệt cộng tướng của các pháp, nên có sự sai biệt từ Văn thành tuệ, Tư thành tuệ, Tu thành tuệ cùng Sanh đắc tuệ.
 
Như trên chúng ta đã biết, tuệ cũng có nhiều giai đoạn để chúng ta phân biệt từ thấp lên cao từ thế gian ra khỏi thế gian, từ hữu lậu đến vô lậu, vì thế dụng ngữ dành cho tuệ cũng theo đó mà có tên gọi khác nhau. Thông thường tuệ chúng ta thường gọi chung là trí tuệ. Trí tuệ này là mục đích tối hậu của Phật giáo trong việc thực hiện giác ngộ tuệ giác giải thoát. Không luận là ba học, hay mười pháp vô học, sáu Ba-la-mật, tất cả đều đặt trí tuệ vào phân vị cuối cùng. Tuy vậy, trí tuệ vẫn được phân ra làm nhiều cấp độ như trí tuệ hữu lậu của cõi dục thế tục, trí tuệ sơ bộ của các bậc mới chứng ngộ, trí tuệ của các bậc A-la-hán Thinh văn, trí tuệ của các bậc Bích-chi Phật (Duyên giác), trí tuệ theo từng giai đoạn của các cấp vị Bồ-tát, cuối cùng trí tuệ cao tột là của các đức Phật.

Như vậy tùy theo thuộc tính của từng cấp bậc mà chúng ta hình dung được dụng ngữ của trí tuệ như: Skrt: prajñā, Pāli: paññā, tuệ, trí tuệ, Bát-nhã; Skrt: jñāna, Pāli: ñāṇa, trí, trí tuệ, Xà-na; Skrt: vidyā, Pāli: vijjā, minh; Skrt: buddhi, giác; Skrt: medha, tuệ; Skrt: bhūri, quảng, quảng tuệ; Skrt: darśana, Pāli: dassana, Kiến, nai-lại-xá-na; Skrt: dṛṣṭi, pāli: diṭṭhi, kiến; Skrt: vipaśyanā, Pāli: vipassanā, quán, tỳ-bát-xá-na; Skrt: anupaśyanā, Pāli: anupassanā tùy quán; Skrt: parijñā, Pāli: pariññā, biến tri; Skrt: abhijñā, Pāli: abhiññā, chứng trí, thần thông; Skrt: ajñā, Pāli: aññā, liễu tri, dĩ tri, a-nhã; Skrt: samprajāna, Pāli: sampajāna, chánh tri; Skrt: mīmāṃsā, Pāli: vīmaṃsā, quán, quán sát; Skrt: parīkṣā, Pāli: parikkhā, quan, quan sát; Skrt: pratyavekṣaṇa, Pāli: paccavekkhaṇa, quan sát; Skrt: dharma-vicaya, Pāli: dhamma-vicaya, trạch pháp; Skrt: pratisaṃvid, Pāli: paṭisambhidā, vô ngại giải, vô ngại biện. 

Ngoài những dụng ngữ dành cho cấp bậc tu chứng trên ra, trí tuệ còn đem ra để làm thí dụ như: Skrt: cakṣu, Pāli: cakkhu, nhãn; Skrt: āloka, quang minh. Và, trí tuệ còn được cụ thể hóa sự thể nghiệm qua Bồ-đề (Bodhi), giác, đạo, tam-bồ-đề (sambodhi), chánh giác, đẳng giác. Đó tất cả những thể hiện qua ngôn ngữ biểu trưng cho thuộc tính từng chủng loại riêng biệt, nhưng chúng cũng biểu trưng cho trí tuệ tùy theo từng thuộc tính của chúng. Tuy nhiên dụng ngữ mà chúng ta thường thấy dùng rất nhiều trong kinh-luật-luận luôn là prajñā (pñāna) và jñāna (ñāṇa), hai từ này dịch nghĩa là trí tuệ, đó là cách dịch xưa. Theo cách tân dịch của ngài Huyền Tráng thì prajñā dịch là tuệ, jñāna dịch là trí. Tuệ trong ba học, trong sáu ba-la-mật hay trong bát-nhã ba-la-mật đều là tuệ cả. 

Tuệ (prajñā, paññā) là trí tuệ mang ý nghĩa rộng lớn. Y cứ vào A-tỳ-đạt-ma thì tác dụng của tuệ bao gồm có thiện, ác và vô ký trong tất cả mọi nhận thức, thậm chí nó bao gồm cả liệt tuệ của phàm phu hữu lậu cho đến tuệ tối cao của vô lậu. Bát-nhã, về mặt nào đó, trí tuệ của Bát-nhã được nhận thức là trí tuệ tối cao, mà thật ra thì Bát-nhã chỉ là một loại trí tuệ phổ thông, nhưng nếu cộng thêm từ Ba-la-mật (pāramitā) vào thì mới thật sự trở thành tối cao, hoàn toàn mang ý nghĩa trí tuệ của Bát-nhã Ba-la-mật. Trí (jñāna, ñāṇa) chủ yếu được dùng lại từ hình dung trí tuệ khai ngộ. Những loại tận trí, vô sanh trí, chánh trí đều là trí tuệ của các bậc A-la-hán, còn trí ba-la-mật là trí tuệ tối cao của thập địa Bồ-tát như Thành sở tác trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tánh trí, Đại viên cảnh trí được gọi là Tứ trí, nếu cộng thêm với Pháp giới thể tánh trí thì gọi là Ngũ trí, tất cả đều thuộc về trí tuệ giác ngộ của Bồ-tát. Ngoài ra còn có ba trí là Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí, đây là trí tuệ nói chung chỉ cho trí tuệ giác ngộ từ các vị Thinh văn, Duyên giác, Bồ-tát cho đến quả vị Phật.
 
Về mặt tác dụng của trí tuệ thì chúng ta có thể phân ra làm 2 loại: Hữu phân biệt trí (vsavikalpa-jñāna) và vô phân biệt trí (savikalpa-jñāna). Hữu phân biệt trí là trí tuệ có chủ ý nhận thức đến một đối tượng nào đó; còn Vô phân biệt trí là trí tuệ không có chủ ý nhận thức đến đối tượng, mà nó cùng với đối tượng hợp làm một thể, là trí tuệ chứng ngộ tối cao. Vô phân biệt trí là trí tuệ không của quán sắc tức không. Lý tưởng trước tiên của Phật giáo là, trong lý luận, bằng cách nào để làm sáng tỏ qua nhận thức cho mọi người biết rằng tất cả các pháp là không ngã, không có tự tánh. Tiếp đến là quán chiếu đạo lý vô ngã không tự tánh này, tức là phải dùng thái độ không chấp trước không chỗ được, từ đó biến hoạt động thường nhật của mỗi chúng ta thể hiện trong công việc vô ngại tự tại. Không dụng lực, nên tâm tự tại vô ngại, tự nhiên như pháp, đó chính là sự thể hiện trí tuệ của pháp nhĩ tự nhiên của vô phân biệt trí. Đây là trí tuệ tối cao, còn gọi là Đại trí Bát-nhã Ba-la-mật.
 
Trí tuệ tối cao vô phân biệt này chỉ có đức Đạo sư cùng các vị Bồ-tát mới đạt được, nó được thể hiện trong việc cứu giúp chúng sanh trong ba đường khổ qua lòng từ bi. Tuy là vô phân biệt trí, nhưng lúc này trí vô phân biệt bao gồm có cả trí phân biệt lấy chúng sanh làm đối tượng để giác sát cứu tế. Ở đây, nếu chúng ta bảo hai loại trí hữu phân biệt và vô phân biệt là khác cũng không được, bảo là hai cũng không được;  chúng là bất nhị, bất nhất, cho nên có chỗ gọi là hữu phân biệt hậu đắc trí.
 
Theo Lục Ba-la-mật mà nói thì năm Ba-la-mật đầu: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định là tác dụng của hoạt động hữu phân biệt hậu đắc trí, cũng gọi là phương tiện (upāya) phát xuất từ lòng từ bi; còn trí tuệ (Bát-nhã, prajñā) thuộc về phạm vi hoạt động của vô phân biệt trí. Hay phần trước lục Ba-la-mật được gọi là đại bi của hạ hóa chúng sinh, còn phần sau được gọi là đại trí của thượng cầu Phật đạo. Ở đây, hoạt động trí tuệ đại trí, đại bi chính là  hoạt động lý tưởng Bồ-tát hành của Phật giáo.
 
Theo Phật pháp khái luận tiết ba, chương mười tám của ngài Ấn Thuận thì thật chứng vô lậu tuệ có được phải nhờ vào ba hữu lậu tuệ của văn-tư-tu làm phương tiện để dẫn khởi. Nếu không văn-tư thời không thể nào dẫn khởi để có tu tuệ được; tức là nếu không có chúng thì không thể đạt được vô lậu tuệ. Theo  Tạp A-hàm 30, kinh 843, đức Đạo sư đã từng dạy về bốn Dự lưu phần (nhập lưu phần) gồm có: thân cận thiện nam tử, nghe chánh pháp, bên trong tư duy chân chánh, hướng đến pháp và thứ pháp hướng. Ở đây, theo Thầy mà khởi lên ba tuệ văn-tư-tu thì mới có khả năng chứng ngộ được quả dự lưu Tu-đà-hoàn và trong tiến trình tu tập phải theo thứ lớp tuần tự từ thấp lên cao, không có thể vượt cấp. Tuy nhiên trong quá trình tu tập này cũng có thể phát sinh ra những tệ nạn nếu không thực hành theo thứ lớp đúng pháp, cho nên đức Đạo sư mới dạy tứ y (catvāri pratisaraṇāni): “Y pháp bất y nhơn, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức”, làm tiêu chuẩn trong việc tu học cho các đệ tử của Ngài.
 
- Mục đích của thân cận thiện tri thức là để nghe Phật pháp. Nhưng thật ra tri thức không nhất định là thiện tri thức không thôi mà còn có ác tri thức, nên khó bề mà chúng ta phán đoán phân biệt được thiện và bất thiện. Vì pháp của Phật lưu truyền trải qua thời gian quá lâu dài theo chiều dài lịch sử truyền bá, nên không thoát khỏi những sai lầm trong nhận thức và những dị thuyết xâm nhập vào, hoặc do việc truyền văn mất đi ý nghĩa sự thật và cũng không thể bảo chứng được sự truyền thọ có thể khả tín. Thiện tri thức ở đây phải kinh qua sự thân cận tiếp xúc lâu ngày để chúng ta nhận ra được những sự thật quanh cuộc sống của họ được thể hiện. 

Từ đó, chúng ta đánh giá được những ưu khuyết của những lời nói và thực hành nếu không đủ những tiêu chuẩn chân, ngụy của Phật lý mang lại qua sự thân cận này. Hành giả khi tu tập nên y vào những giáo pháp nào vừa khế cơ vừa khế lý, phù hợp với những lời dạy của Phật thì chúng ta y vào pháp đó mà tu tập, còn đối với cá nhân của những vị truyền đạt nếu phù hợp khế cơ, khế lý với pháp Phật thì dù người truyền dạy là phàm phu tục tử, hay ngoại đạo mà họ nói ra lý của những lời dạy đó khế hợp với chánh pháp thì chúng ta vẫn có thể tín thọ phụng hành. Ngược lại, những ai cho dù mang trong người những hình thức đầu tròn, áo vuông, nhân danh là đệ tử của bậc Thánh, hay tướng tốt đầy đủ như thân Như Lai; nhưng trong những lời thuyết giáo không khế hợp với chánh pháp của Phật dạy thì chúng ta vẫn không theo, không y chỉ vào họ, huống chi là những phàm phu tục tử! 

Cho nên chúng ta phải y pháp bất y nhơn (dharmapratisaraṇna bhavitavyaṃ na pudgala-pratisraṇena). Theo kinh 05, phẩm Thinh Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn đại nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới, “Tỳ-kheo nên biết, nếu có Tỳ-kheo nào tụng kinh trì pháp, phụng hành cấm giới. Vị ấy nói rằng: ‘Tôi có thể tụng kinh trì pháp, vâng giữ cấm giới, học rộng nghe nhiều’ thì hãy cùng Tỳ-kheo kia thảo luận, chiếu theo pháp mà cùng thảo bàn về Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới. Nếu những điều được hiển hiện ấy tương ưng với Khế kinh, tương ưng với Luật và Pháp, khi ấy bèn thọ trì. Nếu không tương ưng với Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, thì nên trả lời: ‘Này bạn, nên biết đây chẳng phải là những lời dạy của Như Lai. Những lời bạn nói chẳng phải gốc của chánh kinh. Vì tôi thấy nó không tương ưng với Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm’. Vì không tương ưng nên phải hỏi về sự hành trì giới. Nếu không tương ưng với giới hạnh, nên nói với người kia: ‘Đây chẳng phải là tạng của Như Lai!’ là phủ nhận lại những lời đức Đạo sư đã dạy”.
 
- Mục đích của hành giả theo thầy là để nghe nhiều chánh pháp huân tập nghĩa lý sâu xa ở đằng sau những lời dạy của đức Phật, tức là chúng ta phải giữ lấy phần nghĩa lý mà không giữ lấy phần hình thức văn tự, tùy theo nghĩa lý chứ không tùy theo văn tự. Có nghĩa là từ trong ngôn ngữ, văn tự, theo đó mà thể hội thật nghĩa của lời văn qua người truyền đạt. Nói một cách chính xác là, người tu đạo phải nương vào Trung đạo Đệ nhất nghĩa, chứ không nương vào hình thức văn tự bên ngoài và chấp vào chúng rồi cho là đi đúng đường. Nếu chúng ta một mực chỉ coi trọng hình thức văn chương ngôn ngữ bóng bẩy của ngữ âm mà xem nhẹ ý nghĩa của nó, rồi chấp vào văn sẽ hại nghĩa và trở nên sai lầm cho bước đường tu tập của mình thì không được, cho nên chúng ta học Phật, muốn có kết quả thì phải y nghĩa bất y ngữ (artha-pratisaraṇna bhavitavyaṃ na vyañjana-pratisraṇena). 

Cũng theo kinh 05, phẩm Thinh Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn đại nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới, “Tỳ-kheo nên biết, nếu có Tỳ-kheo nào tụng kinh trì pháp, phụng hành cấm giới. Vị ấy nói rằng: ‘Tôi có thể tụng Kinh, trì pháp, phụng hành giới cấm, học rộng, nghe nhiều’. Giả sử Tỳ-kheo ấy có nói những gì, cũng không nên thừa nhận khi chưa đủ để dốc lòng tin tưởng. Nên cùng với Tỳ-kheo kia luận nghĩa. Nếu tương ưng với nghĩa thì nên bảo người kia rằng: ‘Đây là nghĩa được nói, nhưng không phải gốc chánh kinh’. Nên chọn lấy nghĩa đó chứ đừng nhận gốc chánh kinh. Sở dĩ như vậy là vì nghĩa là căn nguyên để hiểu kinh. Đây gọi là gốc của đại nghĩa được diễn thứ hai”.
 
- Nghĩa lý rốt ráo luôn tùy thuộc vào pháp tướng chân lý mà nói, tùy thuộc vào căn tánh hữu tình mà nói, tức là chúng ta đề cập đến liễu nghĩa kinh cùng bất liễu nghĩa kinh. Trong ba tạng giáo điển có liễu nghĩa kinh và bất liễu nghĩa kinh, vì ở đây đức Đạo sư dựa vào căn cơ chúng sanh mà thuyết về nhân quả cùng duyên khởi. Do đó, hành giả phải biết phân biệt và phân định đâu là thế gian pháp, đâu là xuất thế gian pháp? Đâu là kinh liễu nghĩa, đâu là kinh bất liễu nghĩa? Và muốn giải thoát khỏi khổ thì phải chọn và y cứ vào con đường trung đạo mà đi, đó là liễu nghĩa thật tướng trung đạo, con đường chúng ta nương tựa vào để đi đến giải thoát chứ không dựa vào bất liễu nghĩa kinh. Đây chính là y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh (nitārtha-sūtra-pratisaraṇna bhavitavyaṃ na neyārtha-sūtra-pratisraṇena). 

Cũng theo kinh 05, phẩm Thinh Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn đại nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới, “Nếu có Tỳ-kheo nào nói rằng: ‘Tôi tụng Kinh, trì pháp, phụng hành giới cấm, học rộng, nghe nhiều’. Nên nói với Tỳ-kheo kia về Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm. Nhưng Tỳ-kheo kia chỉ hiểu vị, chứ không hiểu nghĩa, nên bảo Tỳ-kheo kia rằng: ‘Chúng tôi không rõ những lời này có phải là những lời được thuyết bởi Như Lai hay không?’. Giả sử khi thuyết Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm chỉ hiểu văn từ, chứ không hiểu nghĩa. Tuy nghe những gì Tỳ-kheo kia nói, nhưng cũng chưa đủ để khen tốt, cũng chưa đủ để nói là dở. Lại phải đem giới hạnh để hỏi. Nếu cùng tương ưng, thì nên chấp nhận. Sở dĩ như vậy là vì giới hạnh cùng tương ưng với vị, nhưng nghĩa thì không thể rõ”. Đây gọi là nghĩa diễn giải thứ ba.
 
Đại Lãn (Thích Đức Thắng)

  • Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu
    1. Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo.
    Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu
  • Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật
    21. Không phóng dật, đường sống, Phóng dật là đường chết. Không phóng dật, không chết, Phóng dật như chết rồi.
    Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật
  • Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm
    33. Tâm hoảng hốt giao động, Khó hộ trì, khó nhiếp, Người trí làm tâm thẳng, Như thợ tên, làm tên.
    Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm
  • Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa
    44. “Ai chinh phục đất này Dạ ma, Thiên giới này? Ai khéo giảng Pháp cú, Như người khéo hái hoa?”
    Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa
  • Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu
    60. “Ðêm dài cho kẻ thức, Ðường dài cho kẻ mệt, Luân hồi dài, kẻ ngu, Không biết chơn diệu pháp.”
    Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu
^ Back to Top