Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Bài Nghiên Cứu

Thập Trụ Bồ Tát
Thập Trụ Bồ Tát

Đại thừa Bồ-tát tu sáu ba la mật gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ, đó là Bồ-tát của Bát-nhã. Nhưng Bồ-tát của Hoa Nghiêm tu thập ba-la-mật gồm có sáu pháp ba-la-mật vừa nói cộng thêm bốn pháp ba-la-mật là Phương tiện, nguyện, lực và trí. Bồ-tát phải có phương tiện , vì không có phương tiện không thể làm được. Và có phương tiện rồi, phải có nguyện nghĩa là có muốn làm hay không; vì có phương tiện làm được, nhưng nếu muốn làm mà chỉ muốn an thân mặc dù Phật pháp cần thì cũng hỏng. Bước qua lực ba-la-mật, hành giả muốn làm nhưng làm được hay không. Muốn và làm được thì phải có ba-la-mật. Muốn mà làm không được gọi là lực bất tòng tâm. Hành giả tu lực để việc nào cũng làm được. Và ba-la-mật thứ mười là trí ba-la-mật. Bát-nhã Ba-la-mật chỉ là hiểu biết lý thuyết trên sách vở, hay biết do công phu thiền định. Cái thấy biết ở trường lớp tất nhiên khác với hiểu biết do kinh nghiệm làm đặt hái được. Vì vậy, trí ba-la-mật trong kinh Hoa nghiêm gọi là Nhứt thiết chủng trí do trải qua quá trình hành đạo giáo hóa chúng sanh.

Sự Kết Hợp Nhuần Nhuyễn Giáo Pháp Nguyên Thủy & Đại thừa - Sơ địa Bồ-tát
Sự Kết Hợp Nhuần Nhuyễn Giáo Pháp Nguyên Thủy & Đại thừa - Sơ địa Bồ-tát

Theo Kinh Nguyên Thủy, Hiền vị có cấp bậc là Tu-đà-hoàn, Tư-đà –hoàn và A-na-hàm. Thánh vị là A-la-hán. Theo kinh Đại thừa, Hiền vị gồm 30 bậc là Bồ-tát thập trụ, Bồ-tát thập hạnh và Bồ-tát thập hồi hướng. Hàng Thánh vị gồm mười bậc là Bồ-tát thập địa. Như vậy, để đạt đến Hiền vị và Thành quả, Nguyên thủy tu khác Đại thừa, vì hành giả theo Nguyên thủy lấy giải thoát làm chình, trong khi hành giả Đại thừa hành Bồ-tát đạo, cứu độ chúng sanh là việc chính. Từ đó đặt ra câu hỏi cho chúng ta rằng việc độ chúng sanh đúng hay tu giải thoát đúng. Phải khẳng định rằng cả hai đều đúng, không có pháp nào sai cả, nhưng tùy theo trình độ, căn cơ của từng hạng người khác nhau mà Đức Phật triển khai giáo pháp khác nhau.

Phật giáo và môi trường sinh thái
Phật giáo và môi trường sinh thái

Với trí tuệ của bậc Toàn giác, Đức Phật nhận chân được sự đồng nhất, không sai biệt trên dạng thể tánh của muôn loài trong vũ trụ và trên mặt hiện tượng giới, sự sống của muôn vật đều cộng tồn, cộng hưởng một cách mật thiết, không thể tách rời.

Ngũ căn ngũ lực
Ngũ căn ngũ lực

Nhiều người chỉ lo học, nhưng ít tu, nghĩa là ít thực hành pháp Phật dạy, cho nên không đạt được kết quả tốt. Ngoài ra, trên bước đường tu, không biết vị trí của mình và không biết ứng dụng giáo pháp thích hợp với hoàn cảnh mình, nên cũng không có kết quả. Thật vậy, người xuất gia về hình thức giống nhau, nhưng phước đức và trí tuệ của mỗi người không đồng nhau, tức điểm xuất phát khác nhau. Phải nhận ra điều này, mới ứng dụng được giáo pháp đúng đắn.

Hạnh Bồ Tát
Hạnh Bồ Tát

Nói đến hạnh Bồ-tát, chúng ta có nhiều kinh diễn tả Bồ-tát đạo khác nhau, như kinh Bát-nhã, kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa, kinh Phương đẳng. Bước đầu, từ Thanh văn qua Bồ-tát hạnh lấy kinh Bát-nhã làm chuẩn, vì Phật dạy khi tu Thanh văn hay Duyên giác đến đỉnh cao của Thanh văn thừa, đắc La-hán, chúng ta có trí tuệ, bấy giờ mới nghĩ đến độ sanh. Các anh em còn nhớ khi Phật đến Lộc Uyển thuyết Tứ Thánh đế, Phật không cho Tỳ-kheo đi khất thực, vị nào đắc La-hán tức có trí tuệ mới đi khất thực, vì biết rõ nhân quả ba đời, biết người có nhân duyên mới đến giáo hóa; không biết mà độ thì thì nguy hiểm cho mình và người, đó là điều chúng ta phải lưu tâm. Và đắc La-hán chỉ độ được một đệ tử, không độ được thêm, nhưng ngày nay chúng ta chưa đắc quả, thậm chí sơ quả cũng chưa có mà nghĩ đến xây chùa độ chúng thì nguy hiểm. Gặp ai cũng độ, gặp người thuộc thành phần bất hảo mà cho cạo tóc làm thầy tu là sai lầm lớn.

Giá trị của Niết Bàn
Giá trị của Niết Bàn

Đức Phật thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài tìm ra giá trị thực của cuộc sống, nhưng Ngài không thể truyền trao giá trị thực đó cho mọi người vì tất cả mọi người còn đang kẹt trong sinh tử và khổ đau, nên không thể nhận được ý nghĩa của Niết-bàn. Vì vậy, Đức Phật nghĩ đến diệt độ, nghĩa là sống với Niết-bàn của Ngài; nhưng bấy giờ Ngài được mười phương Phật và Phạm Thiên thỉnh thuyết pháp. Đức Phật mới đến Lộc Uyển chuyển pháp luân, giảng bốn chân lý, trong đó có hai phần nói về thế giới khổ đau và hai phần nói về an lạc của Niết-bàn. Có thể nói rằng những điều Phật giảng ở Lộc Uyển chưa phải là pháp chân thật, dù chúng ta gọi đó là Tứ Thánh đế, hay Bốn chân lý, vì theo tinh thần Đại thừa, Phật dạy rằng chân lý không thể nói được, mà những gì nói được chỉ là pháp phương tiện, không phải là chân lý.

Bố thí đúng pháp
Bố thí đúng pháp

Đức Phật dạy, Bồ tát muốn thành Vô thượng Chánh đẳng giác phải thực hiện sáu pháp Ba la mật trong cuộc sống, đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Như vậy, bố thí là hạnh trước tiên mà hàng đệ tử Phật phải thể nghiệm trên bước đường hành Bồ tát đạo.

Bồ tát Thập Hạnh và Thập Hồi Hướng
Bồ tát Thập Hạnh và Thập Hồi Hướng

Hạnh Bồ-tát có hai phần là tự hành và hóa tha. Bố-tát thập trụ nhắm vô tự hành nhiều hơn, nhưng qua Bồ-tát thập hạnh đã trụ tâm vững chắc rồi mới nghĩ đến độ người, hành Bồ-tát đạo lấy lợi tha làm chính. Vì vậy, khi tâm chưa vững, công đức chưa có mà độ người không thể đạt được kết quả. Thực tế cho thấy tuy ta trải qua một thời gian tu hành, thấy mình thanh tịnh, tâm bình ổn, nhưng ra làm đạo tiếp xúc với cuộc đời, với công việc, đôi khi công việc làm ta bất an. Vì làm thì phải để tâm, nhưng nếu việc thành tựu tốt đẹp, ta cảm thấy dễ chịu; còn việc không tốt thì ta buồn phiền. Hoặc ta làm được việc, người tán thưởng, ta dễ chịu, dù sự dễ chịu đó sau này có thể làm ta ngã mạn. Nhưng nếu làm không được việc, ta tự xấu hổ và lại bị người chỉ trích thì càng khổ thêm. Vì vậy, tâm không vững mà làm việc, ta luôn rơi vào vui buồn vinh nhục. Anh em thấy các thầy phát tâm làm việc thường đụng chạm nhiều nên bị hư là do tâm không trụ vững chắc trong pháp.

Bản chất của đau khổ
Bản chất của đau khổ

Đức Phật đưa ra bốn chân lý là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Mở đầu Phật dạy Khổ đế, cho nên nhiều người lầm tưởng đạo Phật là yếm thế vì cho rằng cuộc đời này là biển khổ.

Đạo Phật - Tôn giáo của biện chứng và khoa học
Đạo Phật - Tôn giáo của biện chứng và khoa học

Người ta cho rằng–theo Kinh Phật–ai hiểu được Thập Nhị Nhân Duyên, người đó mới hiểu được Giáo Pháp của Như Lai. Nhưng nếu vị đó không hiểu 12 nhân duyên tức là vị đó chưa hiểu Phật Pháp.

Có phải chúa Giê-su đến Ấn Độ để học Phật pháp, Vệ Đà?
Có phải chúa Giê-su đến Ấn Độ để học Phật pháp, Vệ Đà?

Vấn đề nổi bật trở lại trên chúa Giê-Su Ki-Tô và sự liên hệ của ngài với Ấn Độ khi thế giới mừng Chúa Giáng sinh vào thứ Sáu. Một số nhà sử học tin rằng ngài đã dành 17 năm trong buổi thiếu thời – từ lúc 13 đến 30 - ở Ấn Độ học hỏi Phật Pháp và kinh Vệ Đà.

Đạo phật và vấn đề giáo dục thanh thiếu niên phật tử
Đạo phật và vấn đề giáo dục thanh thiếu niên phật tử

Như chúng ta đều đã biết, tương lai của đất nước nói chung, của đạo pháp nói riêng đều ở nơi thế hệ thanh niên. Hãy quan tâm giáo dục để thanh niên có phẩm chất tốt, có lý tưởng sống đẹp, có ý thức về giá trị văn hóa truyền thống và có khả năng xây dựng cho mình cuộc sống hạnh phúc. Hãy giúp cho thanh niên thấy được giá trị của chính mình và cống hiến giá trị ấy cho đời. Đó là cách làm cho nguyên khí của quốc gia hưng thịnh. Chúng tôi nghĩ rằng, đó cũng là một cách làm có ý nghĩa “Hộ quốc an dân”.

Phật Pháp Trường Tồn
Phật Pháp Trường Tồn

Phật giáo không phải là tôn giáo để các tín đồ đến tham gia hay phát động như một phong trào, mà tự thân con người sau quá trình học hỏi, tư duy, nhận thức cốt lõi lời dạy của đấng Từ phụ, từ đó phát tâm tìm đến, thân cận và quy y Tam Bảo: ‘Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu - Tịnh tâm ý quy y Tam Bảo'.

hoằng pháp với Phật Giáo hải ngoại
hoằng pháp với Phật Giáo hải ngoại

Hoằng pháp tại hải ngoại là một chương trình lón. Chương trình trình này đã từng được ứng dụng qui mô bởi vua A Dục (vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên) khi thành lập những đoàn truyền giáo ra khỏi đất nước Ấn Độ

Hoằng pháp tinh thần an sinh xã hội
Hoằng pháp tinh thần an sinh xã hội

Con người sống giữa thế gian ngoài việc chịu tác động lẫn nhau còn chịu sự tác động tự nhiên. Nhưng không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn thuận lợi, gặp những điều kiện sinh sống bình thường, mà trong một số trường hợp con người phải đối mặt với những thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, ốm đau hay các biến cố rủi ro khác nhau.

Hành hương tâm linh con đường hoằng pháp
Hành hương tâm linh con đường hoằng pháp

Hành hương theo truyền thống Phật giáo là nghi thức thắp hương đi nhiễu quanh tháp đường và điện Phật và cũng như lễ bái trước tượng Phật, Bồ tát... Đây là ý nghĩa nguyên thủy của từ “hành hương”...

Phật kinh trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm
Phật kinh trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm

Từ xưa, nhiều nhà văn nhà thơ nước ta đã ít nhiều chịu ảnh hưởng kinh Phật với những mức độ khác nhau. Trong số đó phải kể đến Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1581), Ngô Thì Nhậm (1746-1803)… Sự tác động của tư tưởng Phật ở hai tác giả này như mạch ngầm trong cuộc đời của họ.

Vai trò của người có trí và có trí tuệ trong đạo Phật
Vai trò của người có trí và có trí tuệ trong đạo Phật

Mục đích của đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của đạo Phật là giải thoát và giác ngộ, và chỉ có trí tuệ (Pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài Người đến bờ giải thoát và giác ngộ.

Các bài nghiên cứu

  • Nhiều ngàn cõi người?
    Nhiều ngàn cõi người?

    Báo The Independent nói rằng người ta đã tố cáo Charles Darwin đủ thứ, nhưng chưa ai tố cáo Darwin là “một Phật Tử Tây Tạng tàng hình” (closet Tibetan Buddhist).

  • Tận cùng của khoa học phải chăng là tâm thức
    Tận cùng của khoa học phải chăng là tâm thức

    Tâm thức và khoa học là hai phạm trù nghe có vẻ dường như phủ định nhau, nhưng sự phát triển của khoa học không làm mất đi sức ảnh hưởng của tâm thức đến con người, mà hơn thế nữa sự tận cùng của khoa học có lẽ lại chính là tâm thức.

  • Thiền định và Trị liệu
    Thiền định và Trị liệu

    Phật Thích Ca , 2500 năm xưa, đã nguyện ngồi thiền dưới cội Bồ Đề cho đến khi chứng đạt Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác hay thành Phật. Thiền định gồm có nhiều phương pháp nhằm phát triển chính niệm, tập trung, thanh tịnh, tỉnh giác và tột đỉnh đạt giác ngộ giải thoát.

  • Sự cộng tác giữa khoa học và tôn giáo
    Sự cộng tác giữa khoa học và tôn giáo

    Mọi người, chẳng kể là giàu hay nghèo, học vấn hay không học vấn, đều có khả năng để hướng đến một đời sống an bình và đầy đủ ý nghĩa. Chúng ta phải khám phá thật sâu sắc, thật sâu xa một cách tối đa mà chúng ta có thể, làm thế nào để điều ấy được hiển lộ.

^ Back to Top