Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Chuyên đề

  • Cá nghe kinh
    Cá nghe kinh

    Chu Mạnh Trinh là khách hành hương tới Hương Sơn để hưởng thú “bầu Trời, cảnh Bụt”; nhưng thật ra là đang viếng cảnh biển xanh biến thành nương dâu đang hiện tướng trong tâm thức của chính mình. Chim ríu rít cúng dường hoa trái. Cá lặng lờ ngừng vẫy nghe kinh là khi Tâm Kinh biến thành Chân Kinh. Nguyễn Du cũng đã qua bao nhiêu trải nghiệm thăng trầm của thế sự, nhưng mãi tới khi về lại với chính mình mới tìm được Chân Kinh:

  • Kinh điển Đại thừa có phải do Phật thuyết hay không
  • Sự xuất hiện Kinh điển Đại thừa

    "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. ....

  • Tam Tạng Kinh điển

    Trong 45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia

Bài Nghiên Cứu

Văn Học Phật Giáo Việt Nam đồng hành với 1000 năm Thăng Long Hà Nội

Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam khá sớm. Ngay từ buổi đầu, với truyền thống khế lý khế cơ vốn có, Phật giáo đã tạo được những mối liên hệ mật thiết trên con đường đi tới của dân tộc ta. Và trải qua hơn hai ngàn năm hội nhập phát triển, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nhìn chung Phật giáo đã tạo được những gắn bó tốt đẹp với dân tộc, thể hiện qua các mặt như phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ tư duy v.v…

Văn Học Phật Giáo Việt Nam đồng hành với 1000 năm Thăng Long Hà Nội

Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam khá sớm. Ngay từ buổi đầu, với truyền thống khế lý khế cơ vốn có, Phật giáo đã tạo được những mối liên hệ mật thiết trên con đường đi tới của dân tộc ta. Và trải qua hơn hai ngàn năm hội nhập phát triển, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nhìn chung Phật giáo đã tạo được những gắn bó tốt đẹp với dân tộc, thể hiện qua các mặt như phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ tư duy v.v…

Nhà thơ Trụ Vũ, trong bài thơ Tình Sông Nghĩa Biển đã viết:

Việt Nam và Phật giáo
Phật giáo và Việt Nam
Ngàn năm xương thịt kết liền
Tình sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng…
Trang sử Việt Nam yêu dấu
Thơm ướp hương trầm
Nghe trong tim Lý Lê Trần
Có năm cánh đạo nở bừng nguy nga…(1).

Đó là những vần thơ bình dị, chân thành, mang dáng dấp ca dao, nhằm diễn đạt sự gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trên suốt chặng đường dài lịch sử.
Kỷ nguyên Đại Việt được tính từ đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhưng nổi bật nhất là đời Lý – Trần. Thăng Long – Hà Nội là kinh đô của Đại Việt kể từ nhà Lý, nên chiều dài lịch sử của kinh đô cũng là chiều dài lịch sử của đất nước Đại Việt. Do đấy, nói đến sự đồng hành của Phật giáo cùng với lịch sử của đất nước Đại Việt, cũng là nói đến một phần của Phật giáo Việt Nam đã đồng hành với lịch sử của kinh đô Thăng Long. Ở đây xin giới hạn vào lãnh vực văn học, chúng tôi xin nói đến văn học Phật giáo Việt Nam (*) đã đồng hành với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

I. Những mở đầu:

1. Từ ngôi chùa Khai Quốc thời nhà nước Vạn Xuân độc lập: Chùa Khai Quốc (Trấn Quốc) là một trong những ngôi danh lam cổ nhất của kinh đô Thăng Long. Chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 TL thời nhà nước Vạn Xuân độc lập của Lý Bí. Sách Lịch Sử Việt Nam tập 1 viết: “Sau những thắng lợi trên cả hai chiến trường biên giới Bắc Nam, giành lại và bảo toàn lãnh thổ cơ bản từ thời dựng nước đầu tiên, mùa Xuân tháng Giêng theo Lịch Trăng (Tháng 2/544) Lý Bí dựng lên một nước mới, với quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày sau)… Lúc nầy Phật giáo đang phát triển mạnh ở nước ta… Giới Tăng Ni là tầng lớp trí thức đương thời chắc chắn đã ủng hộ Lý Nam Đế. Chính một người trong họ ông và làm tướng cho ông đã mang một cái tên đượm màu sắc sùng bái Phật Tổ: Đó là Lý Phật Tử. Nhà nước Vạn Xuân dù mới dựng, cũng bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn của nước ta. Đó là chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày sau. Ngay cái tên chùa Mở Nước cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa” (2). Chính vì ý nghĩa ấy mà về sau nầy, khi viết về chùa Trấn Quốc, dù là Văn, Thơ hay Văn Bia, người viết cũng đều nói đến Thăng Long, nói đến mối tương quan tốt đẹp giữa Phật giáo Việt Nam với triều đình, với nhà nước. Như Bài Minh nơi Văn Bia chùa Trấn Quốc do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính (1588 – ?) viết và được dựng vào năm 1639:

Phường gọi An Hoa
Chùa tên Trấn Quốc
Ngưu chử mênh mông
Phượng sơn cao ngất.
Đời vui xuân đài
Người lên thọ vực
Trăm nghìn công lao
Muôn vàn hạnh phúc
Như Thánh như trời
Cao đẹp công đức. (3)

Đến Thiền sư Pháp Thuận nơi triều đại Lê Đại Hành: Sách Thiền Uyển Tập Anh, mục Thiền sư Pháp Thuận (915 – 990) đã viết: Trong buổi đầu, khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, Sư (Pháp Thuận) có công dựng bàn hoạch định sách lược. Khi thiên hạ thái bình, Sư không nhận chức tước của triều đình phong thưởng. Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng… Vua từng hỏi Sư về vận nước ngắn dài, Sư đáp:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các    
Xứ xứ tức đao binh. (4)

Trong bài viết Hai Thiền sư – Thi sĩ mở đầu lịch sử văn chương cổ điển Việt Nam đăng trên Tập San Văn, Giáo sư Trần Thanh Đạm đã đánh giá rất cao bài kệ trên: …Có thể nghĩ rằng phải qua hơn một ngàn năm mất nước và kiên trì đấu tranh giành lại nước, từ đó thâu thái tinh hoa của Thiền học, Thiền tông thì trí tuệ Việt Nam mới nảy sinh một tư tưởng uyên thâm và uyển chuyển, đồng thời lại chung đúc trong một hình thức súc tích mà hùng hồn như vậy. Theo tôi, hàm nghĩa và hàm ý của khái niệm thái bình, vô vi trong Bài Kệ nầy đòi hỏi sự thăm dò, phân giải sâu sắc của các nhà Triết học Việt Nam hiện tại, không chỉ đơn thuần là những khái niệm có sẵn trong Tam giáo (Nho Phật Lão). Ở đây đã có sự vận dụng sáng tạo, đã có sắc thái, phong thái Việt Nam (5).
Chúng tôi không rõ là đã có những nhà Triết học Việt Nam hiện đại nào “thăm dò, phân giải” về một số khái niệm như thái bình, vô vi v.v… nơi Bài Kệ ấy chưa. Chúng tôi tất không phải là nhà Triết học, chúng tôi chỉ là những người học Phật bình thường nhưng cũng có quan tâm ít nhiều đến Văn học Phật giáo Việt Nam, nên cũng xin lạm bàn về từ vô vi trong Bài Kệ trên. Chúng tôi sẽ bàn rộng nơi một bài viết riêng, ở đây chỉ nêu tóm tắt. Từ Hải, bộ Từ Điển nổi tiếng của Trung Hoa, nơi từ vô vi đã giải thích: Vô vi:
* Nghĩa là trị hóa theo vô hình gọi là vô vi. Sách Luận Ngữ, Thiên Vệ Linh Công: Vô vi mà thiên hạ được bình trị, là vua Thuấn đấy chăng?
* Là nghĩa thuần theo tự nhiên: Lão Tử: Đạo thường là vô vi nhưng không gì là không làm. Sử Ký, Lão Tử truyện: Lão Tử vô vi tự hóa, thanh tịnh tự chánh.
* Thuật ngữ nhà Phật: Là tên gọi khác của chân lý. Chân lý không do nhân duyên tạo tác mà thành nên gọi là vô vi. Cũng gọi là pháp vô vi. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký: Chân lý vô tánh gọi là vô vi (6).
Như thế là đã khá rõ: Phật giáo truyền vào Trung Quốc, các nhà dịch thuật kinh điển Phật giáo trong buổi đầu hẳn là đã mượn từ vô vi nơi sách của Khổng, Lão để dịch từ Asamskrta của tiếng Phạn, nhưng chuyên chở một nội dung hoàn toàn khác. Sự khác biệt ấy như Từ Hải đã giải thích, nêu dẫn. Do đấy, từ vô vi nơi Bài Kệ trên, cũng như toàn bộ các từ vô vi nơi một số Thi Kệ của các Thiền sư thời Lý Trần – kể cả Thơ Nôm, như trong Bài Phú Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông: Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc. Hội thứ 4. Câu 8 – đều nên được hiểu theo nghĩa của Phật giáo: Tùy theo văn cảnh, hoặc hiểu là chân lý, hoặc hiểu là giải thoát, giác ngộ, thường trụ, bất sinh bất diệt v.v… Như vậy, từ vô vi nơi Bài Kệ trên có thể dịch là đạo pháp, hoặc để nguyên rồi chú thích. Và 2 câu sau của Bài Kệ ấy nên hiểu là: Nếu nhà vua (Triều đình) trị nước theo ảnh hưởng của Phật giáo tất sẽ tạo được thái bình, an lạc lâu dài cho muôn dân. Thế nào là trị nước theo ảnh hưởng của Phật giáo? Vấn đề nầy cũng phải được bàn rộng và có sự tham gia của nhiều người, nhưng theo chúng tôi, nếu cần một sự tóm gọn thì đấy là trị nước theo tinh thần Bát chánh đạo. Đây là điều mà một số vị vua thời Lý – Trần đã làm được. Thế nên, Bài Kệ của Thiền sư Pháp Thuận còn là một dự tri cho vị lai: Đó là dự báo về thời kỳ thịnh Lý thịnh Trần của lịch sử Việt Nam thế kỷ 11 – 14, đồng thời cũng là một đề xuất về mô thức trị nước an dân cho các nhà lãnh đạo đất nước theo dòng chảy của lịch sử.
2. Từ bài thơ Nam Quốc sơn hà nam đế cư…: Bài thơ Nam Quốc sơn hà nam đế cư được xem là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam, trước nay vẫn cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Giáo sư Lê Mạnh Thát trong sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 2 (Nhà xb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) đã dựa vào những tư liệu đáng tin cậy để cho rằng cuộc chiến tranh chống quân Tống được nói đến trong bài thơ là cuộc chiến tranh năm 981 đời Lê Đại Hành, không phải là cuộc chiến tranh chống quân Tống năm 1076 dưới sự chỉ huy của tướng Lý Thường Kiệt. Ông Huyền Cương, người viết bài bày tỏ sự tán đồng luận điểm của Giáo sư Lê Mạnh Thát, đã dẫn lại Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để làm rõ: Sau đoạn văn thứ 1: “Năm Bính Thìn (1076) mùa Xuân, tháng ba, nhà Tống sai Quách Quỳ…” là đoạn văn thứ 2, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: Người đời truyền rằng: Lý Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông đê… và giải thích: Tức là từ chỗ nầy trở xuống không phải là chính sử, tác giả chỉ chép một truyền thuyết để người đọc xem thêm… (7). Và đây là kết luận của Giáo sư Lê Mạnh Thát: “Theo chúng tôi, ta nên trả bài Thơ Thần nói trên về cho cuộc chiến tranh năm 981 (Tân Tỵ) và chúng ta có đủ cơ sở để làm như thế. Đây không phải là một kết luận mới. Hai bộ Sử viết bằng tiếng Việt (Chữ Nôm) vào thế kỷ 16 và 17 là Việt Sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục đều thống nhất với kết luận nầy… Dẫu là Thơ Thần đi nữa thì cũng phải do con người làm ra, phải thông qua một con người để đọc lên. Vậy ai có khả năng làm bài thơ ấy?... Ta thấy trong số những người tham mưu ở bộ chỉ huy của vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến năm 981, không ai có nhiều điều kiện gần gũi vua hơn Sư Đỗ Pháp Thuận. Đặc biệt khi truyện Pháp Thuận trong Thiền Uyển Tập Anh đã xác nhận ông là người tham gia hoạch định sách lược ngay từ khi vua Lê Đại Hành sáng nghiệp…” (8).
Tóm lại, nếu như nơi Bài Từ Vương Lang Quy của Thiền sư Khuông Việt (Ngô Chân Lưu 933 – 1011) Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã ghi nhận: “Đó là lời Tửu chúc từ thân thiện đầu tiên trong lịch sử ngoại giao nước Việt. Mà lại là của một vị Sư” (9), thì ở đây, Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt, người phát ngôn cũng là một nhà sư. Thật đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu đã phát biểu: “Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn liền với Phật giáo” (10).
Đến công việc dời đô cùng xây dựng kinh đô Thăng Long đời Lý: Sau khi lên ngôi, một trong những công việc đầu tiên của vua Lý Thái Tổ đã làm là dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Chúng ta đều biết, Lý Công Uẩn ngay từ 3 tuổi đã được nuôi nấng trong nhà chùa, và cả thời tuổi trẻ đã được Thiền sư Vạn Hạnh chỉ dạy, rồi sau nầy Thiền sư đã cùng với một số vị quan trong triều như Đào Cam Mộc v.v… mưu tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Mà Thiền sư Vạn Hạnh (? – 1025) là một bậc Thạc đức, thông tuệ vào bậc nhất của Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ, lại rất am tường về phong thủy. Do đấy, công việc dời đô về Thăng Long của vua Lý Thái Tổ chắc chắn là có sự tham mưu của Thiền sư Vạn Hạnh.
* Nhà sử học Phan Đại Doãn, nơi bài viết Phật giáo thời Đinh Lê in trong sách Thế kỷ X, những vấn đề lịch sử, đã ghi nhận vắn tắt nhưng rất cô đọng: “Có thể nói trong thời kỳ đầu của kỷ nguyên Đại Việt, Phật giáo đã đem hết khả năng nhập thế, Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Nguyễn Vạn Hạnh là những nhà sư yêu nước, có cống hiến, thậm chí có người còn góp phần định đoạt sự hưng khởi của một triều đại”. (11)
* Ông Lý Hiếu Nghĩa, trong một bài viết đăng trên Tập San Văn cũng đã nhấn mạnh về vai trò của Thiền sư Vạn Hạnh trong quá trình sáng nghiệp nhà Lý: “…Vạn Hạnh là người trực tiếp nuôi dưỡng ý đồ mở mang đế nghiệp, đã chu đáo và linh hoạt khai thác mọi khả năng của Phật giáo và văn hóa trong vùng (Bắc Ninh) để sáng nghiệp nhà Lý vào thế kỷ 11, cũng như thắp sáng không chỉ một thời kỳ văn hóa Thăng Long mà là cả một thời kỳ sau đấy”. (12)
Nhưng đối với các nhà viết lịch sử Phật giáo Việt Nam như Nguyễn Lang (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I), Lê Mạnh Thát (Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam II) thì vấn đề nêu trên hầu như đã được khẳng định. Giáo sư Nguyễn Lang viết: “Tiếp theo Ngô Quyền, các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý đã nỗ lực xây dựng một nền độc lập quốc gia về mọi mặt văn hóa, kinh tế, chính trị và quân sự. Sự đóng góp của các Thiền sư trong buổi đầu đã rất quan trọng.
Về phong thủy học, các Thiền sư Định Không (730 – 808), La Quý (852 – 936) và Vạn Hạnh (? – 1025) đều là những người nổi tiếng. Ta có nhiều lý do để tin rằng Quốc sư Vạn Hạnh, thầy của Lý Công Uẩn, là người đã thuyết phục vua nầy dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, trong ý nguyện nhằm bảo vệ cho nền độc lập được lâu dài. Theo Bài Chiếu Dời Đô của Lý Thái Tổ, đất Hoa Lư là nơi ‘Thế địa không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên’, trong khi đất Thăng Long thì ‘Ở giữa khu trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục…’. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Ta có thể nghĩ rằng Thiền sư Vạn Hạnh vừa là người thảo chiếu, vừa là người thiết kế họa đồ cho kinh đô Thăng Long” (13).
Còn Giáo sư Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 2, mục: Vạn Hạnh và việc dời đô về Thăng Long, đã dành hơn 20 trang sách (14) không chỉ biện luận, dẫn chứng để xác nhận điều nêu trên, mà còn biện chính đối với những nhận định thiếu chính xác về Thiền sư Vạn Hạnh của một vài nhà viết sử thời trước. Giáo sư Lê Mạnh Thát kết luận: “Cuộc đời của Vạn Hạnh đầy ắp những hoạt động tích cực trước sau như một, ước ao thực hiện giấc mơ độc lập, thanh bình, thịnh trị cho dân tộc, cho tổ quốc… Sự nghiệp và con người của Vạn Hạnh đã được sử sách đánh giá. Công ơn ấy, con cháu hôm nay và mãi mãi về sau vẫn còn ghi nhớ”.
Vua Lý Nhân Tông (1066 – 1128) hẳn là người đầu tiên đã đánh giá đúng đắn về tài đức cùng những đóng góp cho đất nước của Thiền sư Vạn Hạnh:

Vạn Hạnh dung tam tế
Chân phù cổ sấm ky
Hương quan danh Cổ pháp
Trụ tích trấn vương kỳ.
(Hành tung thấu triệt ba đời
Ngữ ngôn phù hợp những lời sấm xưa
Quê hương Cổ pháp bấy giờ
Dựng cây tích trượng kinh đô vững bền).
Nguyễn Lang dịch (15).

Câu thơ thứ 4 là sự khẳng định về vai trò tham mưu của Quốc sư Vạn Hạnh, góp phần mở ra một chân trời mới cho kinh đô Thăng Long. Chân trời mới của kinh đô Thăng Long ấy, Văn học Phật giáo Việt Nam đã đồng hành.
II. Kinh đô Thăng Long trong văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần:
1. Thời Lý:
a. Từ những trụ xứ của các Thiền sư tiêu biểu: Kinh đô Thăng Long đời Lý, với những ngôi chùa đã có từ trước hoặc mới xây dựng, bấy giờ, như sách Thiền Uyển Tập Anh đã ghi, đều là những trụ xứ hóa đạo của các vị Thiền sư, là những gương mặt tiêu biểu trong văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý, như: Viên Chiếu (999 – 1091), Huệ Sinh (? – 1063), Ngộ Ấn (1020 – 1088), Mãn Giác (1052 – 1096), Khánh Hỷ (1067 – 1142), Tịnh Không (1091 – 1170), Trường Nguyên (1110 – 1165), Đạo Huệ (? – 1173)… Trứ thuật và sáng tác của chư vị không phải là ít, nhưng phần lớn đã bị mất mát, số còn lại không nhiều, nhưng đều là những đóng góp có giá trị cho Thiền học và văn học Việt Nam thế kỷ 11, 12. Ví như Bài Kệ Thị Tịch của Thiền sư Mãn Giác:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Xuân ruổi, trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai).
Ngô Tất Tố dịch (16).

Đánh giá về ý nghĩa của cành hoa mai nơi Bài Kệ trên, từ Ngô Tất Tố trong Văn Học Đời Lý (1960, trang 52), Lê Văn Siêu trong Văn Học Thời Lý (1957, trang 66), đến Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I (1992, trang 221), Ngô Đức Thọ trong Bản Việt dịch Thiền Uyển Tập Anh (1990, trang 17)… tuy sự diễn đạt có những sắc thái cá biệt, nhưng nhìn chung là nhất trí. Và cho đến nay, cành hoa mai ấy vẫn được xem là cành hoa mai đẹp nhất, không chỉ trong văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý mà là cả trong văn học Việt Nam.
Hoặc Bài Kệ của Thiền sư Huệ Sinh đáp lời vua Lý Thái Tông hỏi về đạo:

Pháp cũng như vô pháp
Không hữu cũng không không
Nếu đạt được lẽ ấy
Chúng sinh với Phật đồng.
Trăng Lăng Già lặng chiếu
Thuyền vượt biển trống không
Không cũng không như có
Định tuệ chiếu vô cùng.
Nguyễn Lang dịch (17).

Giáo sư Nguyễn Lang ghi nhận: “Đây là một bài kệ rất sâu sắc thuộc loại siêu đẳng trong kho tàng Văn học Phật giáo Việt Nam. Không những đứng về phương diện tư tưởng, mà còn đứng về phương diện văn học: Hình ảnh một chiếc thuyền trống không lặng lẽ vượt biển dưới ánh trăng tịch tĩnh của Lăng Già là một hình ảnh mầu nhiệm. Thiền sư Huệ Sinh đã bắt đầu bằng quan niệm về pháp (Sự vật) phù hợp với tinh thần Bát nhã: Nếu pháp là một sự tập hợp của nhiều điều kiện và không có một bản chất hay tự tánh trong bản thân nó, thì pháp ngang với vô pháp, vì vậy những thuộc tính hữu và không không thể gán cho nó được. (Pháp cũng như vô pháp, Không hữu cũng không không). Nếu đạt được chân lý đó – đạt bằng thực chứng chứ không phải nắm bắt bằng khái niệm – thì sẽ không thấy có gì khác nhau giữa chúng sinh (Người không giác ngộ) và Phật (Người giác ngộ). Trong thế giới thực tại của chân lý ấy, mọi ngôn ngữ khái niệm đều không còn hiệu lực gì nữa, tất cả đều lặng yên: Dưới ánh sáng trầm lặng của mặt trăng Lăng Già, tượng trưng cho trí tuệ giác chiếu, một chiếc thuyền vượt biển, trong lòng thuyền tuyệt đối không mang theo ai, không mang theo gì. Ở đây, Phật và chúng sinh là một, không có người mê, không có người ngộ, không có người cứu độ, không có người được cứu độ, không có ai qua bờ” (18)
Hoặc như tác phẩm Tham Đồ Hiển Quyết của Thiền sư Viên Chiếu (Một phần được giữ lại trong sách Thiền Uyển Tập Anh). Đây là tác phẩm đầu tiên của Thiền học Việt Nam viết theo lối Hỏi – Đáp, kiểu Đối cơ, nhiều câu nhiều đoạn là những công án Thiền học. Điều đáng nói ở đấy là, qua một số Hỏi – Đáp, tác giả đã khéo kết hợp một cách hài hòa, uyển chuyển giữa thi ca và Thiền học (19).
Đến Thiền sư Thông Biện, chùa Khai Quốc: Thiền sư Thông Biện (? – 1134) họ Ngô, người Hương Đan Phượng, gia đình nhiều đời theo Phật, bản tính thông tuệ, học thông cả Tam giáo dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127), Thiền sư trụ trì chùa Khai Quốc kinh đô Thăng Long. Ngày rằm tháng 2 năm Hội Phong thứ 5 (1096), Hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân (Tức Nguyên Phi Ỷ Lan, mẹ vua Lý Nhân Tông) đã tổ chức tiệc chay tại chùa Khai Quốc để cúng dường chư Tăng, nhân đấy Nguyên Phi đã thưa hỏi một số vấn đề về lịch sử truyền bá đạo Phật, giáo lý và được Thiền sư Thông Biện trả lời khá rõ ràng, đầy đủ, khiến Nguyên Phi Ỷ Lan rất vừa ý, tin kính. Thiền sư Thông Biện được phong chức Tăng Thống, ban hiệu là Thông Biện Đại sư (Trước có tên là Trí Không), ban thưởng áo cà sa màu tía. Sau đấy, Thiền sư Thông Biện thường được thỉnh vào đại nội để Nguyên Phi tham vấn về Phật pháp, nhờ đó Bà đã có những hiểu biết sâu về Thiền, Phật. Đây là Bài Kệ ngộ đạo của Bà:

Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc không đều vô ngại
Mới khế hợp chân tông.
Hoa Bằng dịch (20).

Nguyên Phi Ỷ Lan (? – 1117) là nhân vật nữ đặc biệt không chỉ của triều Lý mà là của cả lịch sử Việt Nam. Những đóng góp của Nguyên Phi về chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo đã được sử sách nói đến. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh về cái âm vang của cuộc đời Bà đối với nhiều thế hệ người cầm bút đời sau.
* Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, Truyện Tấm Cám được nhiều người biết đến, là truyện chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Theo ông Hoàng Trọng Miên, nơi sách Việt Nam Văn Học Toàn Thư tập 2, thì bên cạnh truyện cổ kia còn có một truyền tụng về Tấm Cám có thực ở ngoài đời, mà cô Tấm ấy chính là Nguyên Phi Ỷ Lan đã được tô điểm, vẽ vời thêm (21).
* Hậu bán thế kỷ 18, một cung tần của chúa Trịnh là bà Trương Thị Ngọc Trong (1755 – ?), đã dựa theo Thần tích nơi các đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan để viết Truyện Nôm “Chuyện Ỷ Lan”, gồm 606 câu thơ (598 câu thơ Lục bát Nôm và 8 câu thơ chữ Hán), ca ngợi nhân vật nữ xuất sắc đời Lý, nhất là công việc mộ Phật, tôn Phật của Bà. Đây là những câu 543 – 548, 553 – 556 của Truyện:

Lý Hậu công đức cao dày
Thánh tôn thần tử nối thay dõi truyền
Vả xem những sự tiền duyên
Toan làm công đức để truyền hậu lai.
Lỗi Hương đền phủ mọi nơi
Chùa chiền tân tạo vẽ vời nghiêm trang…
Xây am xây tháp xây tường
Mở mang mọi cảnh phong quang ưa nhìn
San kinh, tạc tượng kiền kiền
Hồng chung bảo khánh để truyền thế gian (22).

* Tiền bán thế kỷ 20, cuộc đời của Nguyên Phi Ỷ Lan cũng được nhắc đến và tái hiện nơi Truyện dài: “Cô con gái Phật hái dâu” của Nguyễn Trọng Thuật (1883 – 1940) đăng nhiều số trên Tạp chí Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Theo Giáo sư Nguyễn Lang thì Truyện nầy viết rất có nghệ thuật, hơn hẳn tác phẩm Quả Dưa Đỏ của cùng tác giả (23).
* Một số nhà văn Việt Nam hậu bán thế kỷ 20, cũng dành nhiều tâm lực để viết về Nguyên Phi Ỷ Lan, như Quỳnh Cư, Hoài Anh v.v… Với Bài Kệ ngộ đạo nêu trên, Nguyên Phi Ỷ Lan cùng với Ni sư Diệu Nhân (1042 – 1113) thuộc thế hệ 17 của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời Lý, tác giả Bài Kệ Thị Tịch nổi tiếng, được xem là hai nữ sĩ của văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý, cũng là hai nữ sĩ đầu tiên của văn học cổ điển Việt Nam.
b. Từ công việc xây dựng chùa tháp: Chùa tháp ở kinh đô Thăng Long vào đời Lý được xây dựng hoặc tu bổ nói chung là khá nhiều, đáng chú ý nhất là chùa Diên Hựu (1049) và tháp Báo Thiên (1057) được xây dựng dưới triều vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072).
* Về việc xây dựng chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột), theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì do vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072) chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen giơ tay dắt vua lên. Tỉnh dậy, vua nói lại chuyện ấy với bề tôi. Sư Thiền Tuệ khuyên vua làm một ngôi chùa giống như cảnh đã thấy trong mộng. Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1049) vua cho dựng chùa. Khi làm xong, các nhà sư đi nhiễu quanh cột đá trên đặt tòa sen, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế đặt tên chùa là Diên Hựu. Dưới thời Lý Nhân Tông (1072 – 1627) chùa được sửa sang hai lần vào năm Tân Tỵ (1101) và Ất Dậu (1105), lần thứ hai có mở rộng quy mô cho đẹp và bề thế hơn (24).
Đây có thể là một minh chứng cho Tín ngưỡng Quan Âm đã thịnh hành ở Việt Nam. Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334), Tổ thứ 3 của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần đã viết về chùa Diên Hựu:

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan
In ngược hình chim gương nước lạnh
Sẫm đôi bóng tháp ngón tiên hàn.
Muôn duyên chẳng vướng: Xa trần tục
Một mảy nào lo: rộng nhãn quan
Thấu hiểu thị phi đều thế cả
Dầu ma dầu Phật chốn nào hơn?
Huệ Chi dịch (24).
Bốn câu sau, Nguyễn Lang dịch là:
Thành ngăn tục lụy trần không vướng
Cửa mở vô ưu mắt rộng tầm
Thấy được thị phi cùng một tướng
Ma cung, Phật quốc cũng ngồi chung.

Và cho: Có thể nói đấy là tư duy của ông (Thiền sư Huyền Quang) về vấn đề đạt đạo (25).
Về câu thơ thứ 3: Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh (In ngược hình chim gương nước lạnh): Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng dịch nghĩa: Hình con chim cú (Trang trí trên đầu mái) in lộn bóng xuống mặt gương nước (hồ) trong lạnh, như đang ngủ (26). Sách Thơ Văn Lý Trần II dịch nghĩa: Bóng xi vẫn nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá, và chú thích: Xi vẫn: Hoặc còn gọi là Xi vĩ, là hình những con cú được chạm hoặc đắp nổi trên các nóc đỉnh chùa. Ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng (27).
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn thì “…Cách giải thích trên là không phù hợp, vì theo quan niệm của người Việt Nam, con chim cú xấu xí tượng trưng điềm xui gở. Không thể đem hình tượng chim cú để làm đề tài trang trí trên nóc các ngọn bảo tháp lưu ly trước ngôi quốc tự Diên Hựu. Nhìn các đầu chim trang trí làm bằng đất nung tuyệt đẹp được khai quật, chúng tôi nghĩ rằng có thể người xưa dùng chữ Xi vẫn để chỉ loài đại bàng Kim sí điểu (Garuda) mà người đời sau không hiểu nghĩa hoặc sao chép sai lạc chăng?”. (28)
Trần Bá Lãm (1757 – 1815) cũng có bài Thất ngôn tứ tuyệt viết về chùa Diên Hựu, nhấn mạnh đến tín ngưỡng Quan Âm:

Xóm hoa trong thành, chùa trong xóm
Danh là Diên Hựu, Lý triều xây
Trong cung hòa hợp mộng hoàng tử
Bồ tát Quan Âm mới linh thay!
Nguyễn Đăng Thục dịch (29).

* Về Tháp Báo Thiên, sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I của Nguyễn Lang viết: “Tháp Báo Thiên ở chùa Sùng Khánh được xây năm 1057 đời vua Lý Thánh Tông (Cái chóp bằng đồng phía trên là công trình của Không Lộ) cao 20 trượng, 12 tầng, là một trong những công trình lớn đời Lý (30)”. Danh sĩ Phạm Sư Mạnh (Thế kỷ 14) một gương mặt thơ đáng chú ý của văn học Việt Nam thế kỷ 14 đã đề vịnh Tháp Báo Thiên:

Trấn áp đông tây giữ đế đô
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ
Non sông vững chãi tay trời chống
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô.
Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ
Tới đây những muốn dầm ngòi bút
Chiếm cả dòng sông mài mực thơ.
Đào Thái Tôn dịch (31).

Đến sự việc ca ngợi tài đức của Lý Thường Kiệt: Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là con dân của đất Thăng Long, là vị tướng lừng danh của đời Lý, tiêu biểu cho võ công thời Lý, lại mộ Phật, thế nên ca ngợi tài đức của Lý Thường Kiệt cũng là ca ngợi cái hùng khí của đất Thăng Long đã sản sinh ra bậc anh tài, là ca ngợi sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và triều đình. Đây là một đoạn của Bài Minh nơi Văn Bia chùa Báo Ân núi An Hoạch (Chùa do Lý Thường Kiệt xây dựng) do Chu Văn Thường (Thế kỷ 12) viết:

…Hữu thông núi thẳm
Tả tới Phù tang
Hai gò núi đá
Hoa thắm ngát hương.
Dưới tượng Bồ tát
Giữa tượng Phật vàng
Tượng sơn tranh vẽ
Lẫm liệt khác thường.
Bốn phen việc tốt
Một cõi huy hoàng
Tu sửa tượng pháp
Nhà nước vững vàng
Tiếng thơm muôn thuở
Công chói mười phương.
Đỗ Văn Hỷ dịch (32).

Còn đây là một đoạn trong Bài Minh nơi Văn Bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (Chùa cũng do Lý Thường Kiệt lập) do Thiền sư Pháp Bảo (Hậu bán thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12) viết:

Lý công nước Việt
Noi dấu tiền nhân
Cầm quân tất thắng
Trị nước yên dân
Danh lừng Trung Hạ
Tiếng nức xa gần
Vun trồng phúc đức
Đạo Phật sùng tin…
Huệ Chi dịch (33).

2. Thời Trần: Họ Trần phát tích từ Hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (Nam Định), nhưng chính kinh đô Thăng Long đã là nơi chốn chắp cánh cho tài năng tuyệt vời của các vua nhà Trần bay cao. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh về tài năng văn học và Thiền học của các vua từ Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông.
a. Trần Thái Tông (1218 – 1277) và sách Khóa Hư Lục: Xưa nay các bậc vua chúa trị nước giỏi, lại mộ Phật, dốc sức hộ trì Phật pháp thì không ít, nhưng một ông vua đã là một nhà chính trị, quân sự tài ba, lại tranh thủ với thời gian của cả đời mình để học Phật, tu Phật, trứ thuật về Phật học, Thiền học rất có giá trị, lại cũng xuất sắc về thi ca như Trần Thái Tông thì thật là hy hữu. Lịch sử Phật giáo Việt Nam hầu như không có người thứ hai. Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông là tác phẩm Triết luận về Phật giáo đầu tiên có một giá trị lớn về văn học, không chỉ là đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam đời Trần, mà còn là đỉnh cao về lãnh vực ấy trong văn học Việt Nam. Về ý nghĩa của tên sách cũng như ý nghĩa tổng quát nơi nội dung, Hòa thượng Trí Quang ghi nhận: “Trung Hoa có hai nguồn Thiền. Có nguồn Thiền rất nghiêm cẩn: khổ tu, tinh học, thực chứng. Tôn giả Tuệ Tư (515 – 577) và Luận Chỉ Quán của Tôn giả là nguồn thiền thứ nhất. Ở Việt Nam, chỉ nơi Khóa Hư Lục là có hơi hướng của nguồn thiền nầy” (34). Và Giáo sư Nguyễn Lang giải thích: “Chữ Khóa (Trong Khóa Hư) có nghĩa là sự hành trì học tập. Chữ Hư có nghĩa là với thái độ không cố chấp vào hình thức giáo điều. Nhu yếu của Khóa là sự siêng năng thực tập Thiền học, không để cho thời gian luống qua. Nhu yếu của Hư là thái độ phá chấp tự do không kẹt vào khái niệm, hình thức. Hai nhu yếu tổng hợp lại thành tinh thần thực tiễn và khai phóng của đạo Phật: Thực hiện một cách tinh tấn đạo lý giác ngộ trong tinh thần phá chấp tự do và vô niệm…”. (35)
Về thi ca, vua Trần Thái Tông có Trần Thái Tông Ngự Tập, 1 quyển “Lời thơ thanh nhã đáng đọc” (36), nhưng hiện chỉ còn 2 bài. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt: Gởi sư Đức Sơn ở Am Thanh Phong cũng là một bài thơ Thiền có giá trị:

Gió đập cửa thông, trăng lấp loáng
Lòng đây, cảnh đấy cùng thanh sảng
Bao nhiêu thú vị chẳng ai hay
Mặc kệ cho Sư vui đến sáng.
Nguyễn Đổng Chi dịch (37).

b. Vua Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là vị vua thứ ba của nhà Trần, là một nhân vật đặc biệt của lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ông là một vị vua tài ba đức độ, một nhà lãnh đạo xuất chúng, hết lòng vì dân vì nước, kể cả ở lãnh vực chống ngoại xâm. Ông lại là một Phật tử thuần thành, rất mộ Phật, tu học Phật tinh tấn, biết vận dụng từ những giáo lý cơ bản của Phật giáo vào công việc trị nước an dân. Về phương diện văn học, vua Trần Nhân Tông cũng là một gương mặt thi ca tiêu biểu của văn học Phật giáo đời Trần và của văn học cổ điển Việt Nam thế kỷ 13. Nếu như ở lãnh vực chính trị, xã hội, tôn giáo, nhà vua đã “kết hợp một cách tốt đẹp hoạt động tu hành và hoạt động kinh bang tế thế” (38), thì ở lãnh vực sáng tác, thi ca của nhà vua chính là một sự dung hợp tuyệt vời giữa văn học và Thiền học. Các bài thơ Đăng Bảo Đài Sơn (Lên núi Bảo Đài), Thiên Trường Vãn Vọng (Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường)… đã được xem là những đốm sáng đặc sắc nơi vùng khí quyển của Mỹ học Thiền (39). Ngay như nơi Bài Kệ Hữu cú vô cú – Bài kệ thể hiện sự đạt đạo của vua – cũng đầy ắp những sự kết hợp hài hòa ấy:

… Có có không không    –>    Lập tông lập chỉ
Đập ngói xoi rùa            Leo núi lội sông.
Có có không không        Chẳng có chẳng không
Ghi dấu mạn thuyền        Sau nầy tìm kiếm
Xách theo họa đồ            Đi lùng ngựa đẹp…
Có có không không        Từ xưa tới nay
Chấp vào ngón tay            Quên mất mặt trăng
Đất bằng chìm xuồng.
Có có không không        Như thế như thế
Tám chữ tháo tung            Không nơi bám víu…
Nguyễn Lang dịch (40).

Năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông chính thức xuất gia tu hành ở núi Yên Tử, lấy hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà, trở thành vị lãnh đạo về tinh thần cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời ấy, là Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một Thiền phái mang tính chất dung hợp và đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo sư Nguyễn Lang viết: “Phật giáo đời Trần là Phật giáo của một Tông phái hợp nhất, và căn cứ quy tụ là núi Yên Tử”(41). Như thế, Yên Tử chính là điểm dừng trụ của luồng ánh sáng hướng thượng được phóng ra từ kinh đô Thăng Long. Thăng Long là kinh đô của chính trị, xã hội, văn hóa, còn Yên Tử là kinh đô của Thiền học, của văn hóa tâm linh. Nên viết về Yên Tử cũng là viết về Thăng Long, ca ngợi Yên Tử cũng tức là ca ngợi tầng cao tâm linh của Thăng Long. Ca dao thời ấy có câu:

Dù ai quyết chí tu hành
Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334), Tổ thứ 3 của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có bài thơ Ngũ ngôn bát cú viết về Am vắng nơi núi Yên Tử (Yên Tử sơn am cư) và Bài phú chữ Nôm Vịnh Chùa Hoa Yên – Yên Tử. Các nhà thơ Phạm Sư Mạnh (Thế kỷ 14), Nguyễn Trãi (1380 – 1442), Ninh Tốn (1743 – ?), Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) đều có thơ viết về Yên Tử. Đây là Bài thơ Nôm của chúa Trịnh Căn (1632 – 1709) viết về chùa núi Yên Tử:

Cung quế hương đưa thoang thoảng mùi
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Thanh lương một khóm vang vang rộng
Ưu Bát nghìn xuân rỡ rỡ tươi.
Gió đức hiu hiu nhuần mọi đỉnh 
Doành nhân cồn cộn khắp đôi nơi
Thấy Thiền tăng những vân vân hối
Cảnh với thu chầy hây hẩy vui (42).

c. Các vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), Trần Anh Tông (1276 – 1320), Trần Minh Tông (1300 – 1357) đều là các vị vua khéo trị nước, giỏi văn học, có những tiếp cận thấu đạt về Thiền. Chư vị đều là những gương mặt thi ca tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ 13, 14. Vua Trần Thánh Tông có các bài thơ: Độc Đại Tuệ Ngữ Lục Hữu Cảm (Cảm xúc khi đọc Đại Tuệ Ngữ Lục), Tự Thuật (Năm bài thất ngôn tứ tuyệt), Độc Phật Sự Đại Minh Lục Hữu Cảm (Cảm xúc khi đọc Phật Sự Đại Minh Lục), Chân Tâm Chi Dụng (Diệu dụng của chân tâm) Sinh tử… Vua Trần Anh Tông có những bài thơ: Đông Sơn Tự (Chùa Đông Sơn), Vân Tiêu Am (Am Vân Tiêu), Ký Phổ Tuệ Tôn Giả (Gởi Tôn giả Phổ Tuệ). Vua Trần Minh Tông có những bài thơ: Vãn Quán Viên Huệ Nhẫn Quốc Sư (Viếng Quốc sư Huệ Nhẫn chùa Quán Viên), Đề Đông Sơn Tự (Đề chùa Đông Sơn), Cam Lộ Tự (Chùa Cam Lộ), Nguyệt Áng Sơn Hàn Đường (Nhà Hàn Đường ở núi Nguyệt Áng), Vãn Pháp Loa Tôn Giả (Viếng Tôn giả Pháp Loa), Tặng Huyền Quang Tôn Giả (Tặng Tôn giả Huyền Quang), Giới Am Ngâm (Bài ngâm về Giới Am), Tương Tịch Ký Kim Sơn Thiền Sư (Sắp mất gởi Thiền sư Kim Sơn)… đều là những đóng góp rất có giá trị cho văn học Phật giáo Việt Nam thời Trần.
* Năm 1400, nhà Trần mất ngôi về tay Hồ Quý Ly (1336 – ?), nhưng nhà Hồ trị nước không lâu. Từ năm 1407, đất nước Đại Việt bị quân Minh xâm lược và đô hộ, kinh đô Thăng Long bị đặt dưới sự thống trị của quân Minh, các cuộc khởi nghĩa của hai vua nhà Hậu Trần (1407 – 1413) đều bị thất bại. Nhưng cả kinh đô Thăng Long như vẫn còn vang vọng câu thơ của nhà sư chùa Yên Quốc ca ngợi chí khí của Nguyễn Biểu (? – 1413) – sứ giả của vua Trần Trùng Quang bị tướng của quân Minh là Trương Phụ sát hại:
Chói lọi một vầng tuệ nhật
Ùn ùn mấy đóa từ vân
Tam giới soi hòa trên dưới
Thập phương trải khắp xa gần.
Giải thoát lần lần nghiệp chướng
Quang khai chốn chốn mê tân
Trần quốc xảy vừa mạt tạo
Sứ hoa bỗng có trung thần.
Vàng đúc lòng son một tấm
Sắt rèn tiết cứng mười phân
Trần kiếp vì đâu oan khổ
Phương hồn đến nỗi trầm luân
Tế độ dặn nhờ từ phiệt
Chân linh ngõ được phúc thần (43).
Về phương diện văn học, bài thơ Nôm nầy có thể xem là đánh dấu cho sự trưởng thành của câu thơ Nôm trong lịch sử phát triển của văn học chữ Nôm.
III. Kinh đô Thăng Long trong Văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ 15, 16, 17:
1. Hồ Nguyên Trừng với tác phẩm Nam Ông Mộng Lục: Hồ Nguyên Trừng (Thế kỷ 15) tự là Mạnh Nguyên, hiệu là Nam Ông, con trưởng của Hồ Quý Ly, nhưng không kế vị cha làm vua mà chỉ giữ các chức như Tư đồ, Tả tướng quốc. Năm 1407, nhà Hồ bị quân Minh xâm lược đánh bại, Hồ Nguyên Trừng cùng với cha, em là Hồ Hán Thương và cháu tên Nhuế (Con của Hồ Hán Thương) bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc. Nhờ có tài về kỹ thuật, Hồ Nguyên Trừng được người Minh sử dụng nên cũng thăng quan tiến chức, và Nam Ông Mộng Lục đã được viết ra trong thời gian sống ở đất người ấy. Theo lời Tựa do tác giả viết năm 1438 thì ông viết sách nầy: “Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa. Hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử. Tuy đóng khung trong vòng chuyện vặt, nhưng cũng là để góp vui những lúc chuyện vui” (44). Không rõ là thời gian giữ những chức vụ quan trọng của triều đình nhà Hồ, thái độ của Hồ Nguyên Trừng đối với đạo Phật như thế nào, nhưng qua tác phẩm Nam Ông Mộng Lục, với cố gắng gọi là “Để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa”, tác giả đã ghi chép một số sự kiện liên quan đến Phật giáo thời Lý, Trần với những tình cảm mến mộ, ngợi ca. Trong 28 truyện còn lại của sách, đã có tới 10 truyện tác giả dành để viết về các sự kiện kể trên, trong bối cảnh là kinh đô Thăng Long thời thịnh Lý, thịnh Trần. Đáng chú ý là các truyện: Ni Sư Đức Hạnh. Nhập Mộng Liệu Bệnh (Chữa bệnh qua giấc mộng). Phụ Đức Trinh Minh (Sự kiên trinh sáng suốt của người đàn bà). Thi Ý Thanh Tân (Ý thơ tươi mới)… (45).
2. Vua Lê Thánh Tông viết về chùa Trấn Quốc, chùa Tu Mộng: Đây là luận giải mới của Giáo sư Lê Mạnh Thát về nhà Hậu Lê: Thí dụ như vào triều đại nhà Lê, vai trò của Lê Lợi cùng những người trong Hội thề ở Lũng Nhai, Lam Sơn, sau nầy trở thành khai quốc công thần nhà Lê như Nguyễn Xí, Trịnh Khả, Lê Sát, Lê Ngân v.v… toàn bộ là theo Phật giáo. Nguyễn Xí là con của nhà sư ở chùa làng, Trịnh Khả cầu mưa ở chùa Pháp Vân, Lê Sát là người đã dựng lại chùa Báo Thiên, Lê Ngân thờ Bồ tát Quan Âm. Còn bản thân Lê Lợi, căn cứ vào Lam Sơn Thực Lục, là đệ tử của Bạch Thạch Sơn Tăng người họ Trịnh. Nơi thôn Giao Xá, chỗ Bạch Thạch Sơn Tăng biến lên trời, sau nầy Lê Lợi xưng đế lên ngôi vua, đã lập điện Tiên Du để thờ, và ở động Chiêu Nghi, Lam Sơn thì dựng am nhỏ để tưởng niệm nhà sư nầy. Nhưng không phải đợi đến đời Lê Lợi mới theo Phật giáo, mà tổ tiên ông cũng từng có người trong hàng ngũ chức sắc Phật giáo. Chẳng hạn ông cố của Lê Lợi là Lê Hối, người đã dời gia tộc đến đất Lam Sơn để sau nầy trở thành một địa danh lịch sử, theo Lam Sơn Thực Lục là “làm nghề thầy cúng” (46).
Theo chúng tôi, luận giải vừa nêu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao trong thơ văn chữ Nôm, chữ Hán của mình, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) đã viết khá nhiều về cửa Thiền, nhất là hai bài: Chùa Trấn Quốc (Nôm) và bài Đề Tu Mộng Tự Trụ Khắc (Thơ khắc ở cột chùa Tu Mộng – Hán).
* Bài thơ Nôm viết về chùa Trấn Quốc:
Trung lập càn khôn vững đế đô
Mảng danh Trấn Quốc ở Tây Hồ
Xuân thu thêm có mười phần lạ 
Hoa cỏ dành hay một thức phô.
Hây hẩy hương trời thơm nữa xạ
Làu làu đèn Bụt rạng như tô
Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy
Một tiếng kình khua một chữ mô (47).
Như ở phần Mở đầu đã biện dẫn, viết về chùa Trấn Quốc cũng là viết về kinh đô Thăng Long, là nói đến mối tương quan tốt đẹp giữa Phật giáo Việt Nam với triều đình, với nhà nước. Câu đầu của Bài thơ Nôm nầy gợi chúng ta nhớ đến câu cuối nơi Bài kệ truy tán Thiền sư Vạn Hạnh của vua Lý Nhân Tông: Trụ tích trấn vương kỳ (Gậy Phật vững kinh vua), cũng như câu đầu nơi Bài thơ thất ngôn bát cú của Phạm Sư Mạnh viết về Tháp Báo Thiên: Trấn áp đông tây củng đế kỳ (Trấn áp đông tây giữ đế đô), tất cả đều là những ghi nhận về vai trò cùng những đóng góp của Phật giáo khiến cho kinh đô càng thêm bền vững.
* Bài thơ chữ Hán: Thơ khắc ở cột chùa Tu Mộng:
Chùa cũ hoang sơ đã nửa phần
Cửa Thiền sư cụ dắt lên thăm
Dễ dàng Thầy vượt qua bờ giác
Vất vả tôi đi giữa cõi trần.
Vằng vặc ngũ viên không sắc tướng
Ngời ngời lục độ tỏ tình thâm
Cúi đầu phải trái nay bừng tỉnh
Thận trọng nhà sư chẳng thuyết phân.
Mai Hải dịch (48).
Giáo sư Lê Mạnh Thát ghi nhận: “Việc một ông vua đến thăm chùa đã là lạ, nếu đó là một ông vua Nho giáo. Càng lạ hơn là ông vua ấy lại để cho nhà sư dắt tay đi thăm chùa… Không những thế, vua Lê Thánh Tông còn viết thêm:
Đại giác hải trung quân dị độ
Vô cùng môn lý ngã nan hành
(Dễ dàng Thầy vượt qua bờ giác
Vất vả Tôi đi giữa cõi trần).
Đường đường là một vị thiên tử mà Lê Thánh Tông lại than vãn về những khó khăn của mình, và lại gọi nhà sư là Quân (Ông) xưng mình là Ngã (Tôi), cũng đủ thấy quan hệ của ông vua nầy đối với Phật giáo là như thế nào. Đây là một quan hệ thầy trò, như Lê Lợi đã từng là đệ tử của Bạch Thạch Sơn Tăng. Và trong gia đình của chính nhà vua, người cha vợ là Nguyễn Đức Trung đã đi cầu tự tại chùa Thầy để sinh ra Lê Hiển Tông sau nầy, mà Văn Bia ghi ơn do Nguyễn Bản soạn đến nay vẫn còn ở Sài Sơn” (49). Ở một đoạn khác, Lê Mạnh Thát kết luận: “Vị thế và tư tưởng của Lê Thánh Tông, đặc biệt là Thập giới cô hồn văn và các bài thơ chữ Hán, chữ Nôm của ông, có thể nói Lê Thánh Tông thực tế là một nhà tư tưởng, một tác gia lớn của Phật giáo Việt Nam, không phải là người sùng Nho như có người đã vội vàng khẳng định” (49).
Nơi sách 101 Bài Thơ – Phú Tây Hồ, do Bùi Hạnh Cẩn sưu tầm – biên dịch, mục nói về Bùi Trục, còn gọi là Bùi Tổng (1730 – 1815) một danh sĩ của đất Thanh Trì, đậu Hương Cống năm 1762, tác giả Bài thơ thất ngôn bát cú Chùa Dục Khánh (Dục Khánh Phật Đài):
Năm quá ba trăm Dực Thánh Hoàng
Anh hoa dồn đúc mãi thơm luôn
Sáng thiêng trăm kiếp dài thân nến
Lành tốt ngàn thu chẳng dứt hương.
Khéo chuyển xe Thiền công quả lớn
Giúp ngầm nghiệp báu đạo mênh mang
Một trời phúc đẹp xuân không hạn
Tứ khách Tao Đàn chợt vấn vương.
Bùi Hạnh Cẩn dịch (50).
Bài thơ tuy có đầu đề viết về chùa Dục Khánh nhưng nội dung là ca ngợi công đức cùng tài ba của vua Lê Thánh Tông. Người Biên dịch chỉ ghi chú vắn tắt: Chùa Dục Khánh: Thời trước ở gần Hồ Tây. Dực Thánh Hoàng ở đây là chỉ vua Lê Thánh Tông. Nên chúng ta không rõ mối quan hệ giữa vua Lê Thánh Tông với ngôi chùa Dục Khánh, cũng như bài thơ trên của Bùi Trục được trích dẫn từ đâu. Nhưng rõ ràng hai câu 5, 6 của bài thơ ấy (Nguyên văn chữ Hán: Hoạt chuyển pháp luân công hiệu đại, Mặc phù hoàng cực đạo hà xương) đã cho thấy Lê Thánh Tông là một vị vua Phật tử, hết lòng xiển dương Phật pháp, đồng thời cũng tạo cho đế nghiệp của mình thêm rạng rỡ. Theo chúng tôi, đây là một cứ liệu văn học đáng tin cậy, góp phần xác nhận luận điểm vừa nêu trên của Giáo sư Lê Mạnh Thát. Bài thơ cũng như tác giả Bùi Trục chắc chắn sẽ được các nhà viết lịch sử Phật giáo Việt Nam, lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam quan tâm khảo xét.
3. Một số ngôi chùa cổ ở kinh đô Thăng Long được trùng tu: Thế kỷ 17, mở đầu cho thời kỳ Nam Bắc phân tranh, nếu ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) đã cho xây dựng nhiều chùa chiền như Thiên Mụ (1601), chùa Bảo Châu (1607), chùa Kính Thiên (1609) để làm chỗ dựa tinh thần cho sự nghiệp hùng cứ mở mang bờ cõi của giòng họ mình, thì ở Đàng Ngoài, các chúa Trịnh cũng nối tiếp thực hiện những công việc tương tợ. Một số ngôi chùa cổ ở kinh đô Thăng Long đã được trùng tu, mở rộng như chùa Trấn Quốc, chùa Long Khánh, chùa Càn An, chùa Chiêu Thiền, chùa Chúc Thánh, chùa Thanh Lâu. Chùa trùng tu xong đều có dựng Bia ghi công, Văn Bia đều do các danh sĩ viết, đều cố gắng ghi nhận về cảnh quan của chùa trên nền tảng là cảnh quan của kinh đô Thăng Long cùng mối liên hệ thuận hợp giữa Phật giáo với triều đình, dân chúng. Đây là Bài Minh nơi Văn Bia chùa Long Khánh, dựng năm 1607, do Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) viết:
Cảnh đẹp Quỳnh Lôi    –>    Chùa tên Long Khánh
Chốn chính Chiêu đề        Trời chính Đâu Suất.
Thờ Phật sửa chùa            Tôn thất họ Trịnh
Nền nếp nguy nga            Chùa thật thanh tịnh.
Đàn xuân hoa dâng        Quả cúng thiền định
Tam bảo rạng ngời            Muôn năm chúc Thánh.
Cầu vua sống lâu            Cơ đồ mãi vững
Sánh với đất trời            Bia công đức dựng (51).
Chùa Trấn Quốc được trùng tu năm 1639, Văn Bia do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính (1588 – ?) viết, với Bài Minh đã nêu dẫn ở trước. Còn đây là Bài Minh nơi Văn Bia chùa Càn An, chùa được trùng tu năm 1697, Văn Bia do danh sĩ Nguyễn Duy Cần viết:
Càn An chùa đẹp        –>    Cao ngất phương đoài
Xa gần đều thấy            Khí tiếp thần kinh
Khẩn cầu tất ứng            Lòng cảm kính thành
Đường đường chính vị        Rực rỡ uy linh
Bụi trần không nhiễm        Công đức nên hình
Phúc lưu mãi mãi            Lộc ban tốt lành… (52).
4. Ngoài ra, một loại hình văn học Phật giáo mang tính dân gian là Văn học Kể Hạnh cũng được thịnh hành từ thế kỷ 16, 17. Kể là kể chuyện, Hạnh là hành trạng của các vị Tổ sư. Văn Kể Hạnh là văn đặc biệt của nhà chùa, đó là một lối văn hát: Giọng hát của người lớn tuổi xen vào giọng hát của người trẻ, kể về sự tích của các vị Tổ sư, các vị Thiền sư nổi danh về thần thông, biến hóa. Kể Hạnh được tổ chức vào các ngày Giỗ chư Tổ tại các chùa liên hệ, như chùa Hương Hải (Hải Dương) nơi thờ Tổ Pháp Loa, chùa Tư Phúc (Côn Sơn) nơi thờ Tổ Huyền Quang v.v… Ở kinh đô Thăng Long có chùa Chiêu Thiền (Chùa Láng) được xây dựng từ đời vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) tại ngay trên nền nhà cũ của ông bà Từ Vinh, thân sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? – 1117), chùa có thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và hàng năm cũng có tổ chức Kể Hạnh, kể lại sự tích mang đậm tính chất thần dị của vị Thiền sư nầy. Chùa Chiêu Thiền được trùng tu vào năm 1565, Văn Bia do danh sĩ Nguyễn Văn Trạc viết. Đây là Bài Minh:

Huyện Thanh Trì đệ nhất
Làng Yên Lãng không hai
Nơi Phượng thành khí tốt
Sông Tô Lịch mạch dài.
Núi Tản hổ chầu về
Sông Nhị rồng bao bọc
Kiểu đất vẻ uy hùng
Đẹp thay như gấm vóc!
Có của báu người hiền
Mẹ Thánh sinh con Phật
Bà cụ người họ Tăng
Sinh ra Từ Thiền tông
Nối nghiệp tổ phụ trước
Đạo pháp bao thần thông
Từ núi Thầy trút lốt
Vua Lý lên ngai rồng
Thiện duyên liền hiển hiện
Dấu cũ được tôn sùng…
Hàng năm vào tháng ba
Cứ ngày mồng bảy tới
Hội lớn tụng niệm vui
Nghi lễ bừng sáng chói.
Dân cầu ứng nghiệm nhiều
Nước cầu được hưng khởi
Phúc lớn: Lê và Trịnh
Đất nước vui hòa bình
Chúc vua Lê muôn năm
Chúc chúa Trịnh trường thọ
Vương nghiệp được hưng long
Hoàng đồ được củng cố.
Dân được nhờ ân trạch
Đời đời hưởng phúc trời
Đức ấy công lao ấy
Còn mãi về lâu dài
Tòa chùa giữa trời đứng
Bia truyền nghìn muôn đời (53).

IV. Kinh đô Thăng Long trong Văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ 18, 19:
1. Thiền sư Như Trừng và các chùa Liên Tông, Hộ Quốc ở kinh đô Thăng Long: Thiền sư Như Trừng (1696 – 1733) vốn là một vị vương công họ Trịnh, tên Trịnh Thập, tự là Lân Giác, con của Phổ Quang vương. Ông có tư dinh tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương (Thăng Long). Sau tư dinh có một đồi đất cao. Một hôm, ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá vàng, người nhà đào được một cộng sen lớn đem vào trình ông. Ông cho đấy là điềm xuất gia, liền đổi nhà làm chùa, đặt tên là Viện Ly Trần, chùa Liên Tông, bắt đầu ăn chay, học đạo, ngồi thiền. Sau đó ông dâng sớ xin xuất gia. Được vua chấp nhận, ông lên thẳng núi Yên Tử, làm lễ nơi Thiền sư Chân Nguyên (1646 – 1726) tại chùa Long Động, lúc nầy Thiền sư Chân Nguyên đã 80 tuổi. Ông nỗ lực tu học sau đấy được thọ giới, đắc pháp với Chân Nguyên và trở về tĩnh tu tại chùa Liên Tông. Trong thời gian hoằng hóa, ông có lập thêm chùa Hộ Quốc ở phường An Xá (Cũng thuộc huyện Thọ Xương). Hồi còn làm Sa di tại chùa Long Động, ông có viết các bài Ngũ giới quốc âm và Thập giới quốc âm bằng thơ Nôm lục bát. Thiền sư Như Trừng mất năm 1733, có để lại Bài Kệ ngộ đạo:

Bản tòng vô bản
Tòng vô vi lai
Hoàn tòng vô vi khứ.
Ngã bản vô lai khứ
Tử sinh hà tằng lụy?
(Gốc từ nơi không gốc
Từ vô vi mà đến
Lại đi về vô vi
Ta vốn không đến đi
Tử sinh sao hệ lụy) (54).

2. Những ngôi chùa cổ ở kinh đô Thăng Long được trùng tu:
* Đầu thế kỷ 18, tại kinh đô Thăng Long, ngoài những ngôi chùa mới do Thiền sư Như Trừng tạo lập như đã nêu, còn có một số ngôi chùa cổ được trùng tu, đáng chú ý nhất là chùa Hàm Long, Văn Bia dựng năm 1714 do Tiến sĩ Đặng Đình Tướng (1649 – 1735) viết. Đây là Bài Minh:

Sông Nhị bọt trắng        –>    Núi Tản màu xanh
Trời mến vua chúa            Đóng đô thần kinh.
Phía đông có chùa            Xưa phát phúc lành
Trải qua dâu bể             Hương khói vắng tanh.
Mừng thấy Thánh mẫu        Khổn nghi tốt thay
Lòng thành làm phúc        Nền cũ dựng xây
Đẹp ngôi chùa mới            Như chim vút bay
Đạo Phật sáng ngời        Nghiệp vua rạng rỡ
Con cháu mai sau            Hưởng phúc hơn nữa
Bèn khắc vào bia            Lưu truyền muôn thuở (55).

Trong Văn Bia ấy có câu: “… Nhưng chùa nầy xây dựng đâu phải chỉ để trông cho đẹp mắt, mà sẽ giúp ích cho Thánh triều, khiến đổi mới đời sống muôn dân” (56).
Ghi nhận như thế là đã đánh giá đúng về khía cạnh tích cực trong mối quan hệ muôn đời giữa Phật giáo với triều đại, với đất nước, trên nền tảng là truyền thống hộ quốc an dân của Phật giáo đã bản địa hóa.
* Thế kỷ 19, kinh đô của nhà Nguyễn đã dời vào Phú Xuân, Thăng Long trở thành cựu đô, nhưng một số ngôi chùa cổ của Thăng Long cũng tiếp tục được trùng tu:
- Chùa Trấn Quốc (Lúc nầy mang tên là chùa Trấn Bắc) được trùng tu vào năm 1815, Văn Bia do Tiến sĩ Phạm Quý Thích (1760 – 1825) viết. Đây là Bài Minh:

Cầu ngang Linh Ẩn    –>    Chuông dội Hàn Sơn
Trước mặt mỏ phượng        Sau lưng uốn rồng.
Sóng gợn trong vắt            Mặt nước Tây Hồ
Ngàn đóa hoa sen            Đua nhau vui nở.
Tịch nào không cảm        Thiêng nào không hư
Trăng lồng đáy nước        Soi tỏ chân như.
Bia năm Dương Hòa        Đến nay thành cổ
Ta khắc bài minh            Cùng truyền muôn thuở (57)

- Chùa Một Cột được trùng tu năm 1847, Văn Bia do môn hạ của Đặng Văn Hòa (1791 – 1856) viết. Đây là Bài Minh:

Người sinh trên đời    –>    Phúc là trước hết
Tâm tức là Phật            Tìm thiên lương ta.
Sẵn của sẵn lòng            Nhân duyên muôn kiếp
Phúc tựa hà sa            Bền như bia đá (58).

- Chùa Thiên Niên (Chùa Trích Sài) được trùng tu vào cuối thế kỷ 19, Văn Bia dựng năm 1901 do Thiền sư Trần Văn Tựu viết. Đây là Bài Kệ (Minh):

Trời sinh người một kiếp    –>    Tuy trăm năm tấm thân
Công việc ngàn năm liệu        Chân tính vạn tuổi xuân.
Voi quý ngàn ngàn sức        Ngàn mắt ngàn tay thần
Kinh ghi ngàn ngàn Phật        Nỏ cứng ngàn ngàn cân.
Rùa ngàn tuổi điềm tốt        Hạt ngàn thu về thần
Bút ghi ngàn vạn chữ        Chùa mỗi mỗi năm tân (59).

3. Kinh đô Thăng Long dưới thời Tây Sơn:
a. Tác phẩm Đàm Ni Thân Thế Khẩu Thuật của Ngô Ngọc Du: Ngô Ngọc Du hiệu là Đào Khê, người tỉnh Hải Dương, chưa rõ năm sinh và năm mất, chỉ biết ông từng sống ở kinh đô Thăng Long vào hậu bán thế kỷ 18 và chứng kiến nhiều đổi thay sau khi quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đánh ra Bắc Hà, tiến vào Thăng Long, chấm dứt đế nghiệp Lê Trịnh.
Đàm Ni Thân Thế Khẩu Thuật (Ni sư họ Đàm kể chuyện về đời mình) là bài thơ chữ Hán viết theo thể Thất ngôn cổ phong trường thiên gồm 40 câu, ghi lại lời kể của một người đàn bà đã luống tuổi, hiện tại là một Ni sư ở chùa Trấn Quốc, có cuộc đời đầy nỗi đọa đày. Bà ta quê ở làng Phượng Cách, Sơn Tây, lúc trẻ có theo đòi nghề đàn hát, đến tuổi cập kê, chưa định mối tơ duyên thì gặp lệnh tiến cung ban xuống, vậy là phải lìa gia đình vào triều làm kẻ tỳ nữ, những bảy năm trong hoàn cảnh chim lồng, sau được điều tới hầu cận nơi chốn hành cung, yên phận tỳ thiếp, không dám mong cầu gì hơn. Rồi một hôm được chúa Trịnh chú ý đến và đem lòng yêu mến, thế là tai họa ập xuống đời nàng, vì bà Tuyên phi cả ghen, không chỉ đánh đập tàn nhẫn mà còn cho gọt sạch mái tóc rồi giam vào ngục tối, sống mỏi mòn của kiếp tù đày.
Và đây là đoạn cuối (Bản dịch):

Một hôm cửa mở sáng bừng
Nhiều người ùa đến vui mừng dắt tay
Bảo rằng đời đã đổi thay
Trịnh tàn Lê cũng từ đây chẳng còn
Từ nay xóa sổ đoạn trường
Xa quê lâu, liệu tính đường về thôi
Tái sinh mừng, sợ bồi hồi
Dãi lòng, một lạy trước nơi Phật đàn
Quy y nương kiếp sống tàn
Rối tinh cuộc thế, chi màng lợi danh.
Ngô Linh Ngọc dịch (60).

b. Tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm và nhóm Thiền hữu của ông: Từ năm 1796, triều Tây Sơn đi dần vào chỗ suy vong, Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) gương mặt trí thức, gương mặt thơ tiêu biểu nhất của thời Tây Sơn, đã cáo quan, lui về phường Bích Câu (Kinh đô Thăng Long) lập Thiền viện, cùng với các Thiền hữu: Ngô Đăng Sở (1753 – ?), Vũ Trinh (1759 – 1828), Ngô Thì Hoàng (1768 – 1814) và Nguyễn Hành (1771 – 1824) tham thiền học đạo, bàn luận, viết sách, là một hiện tượng học Phật hết sức đặc biệt có một không hai trong sinh hoạt văn học Việt Nam. Tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đã ra đời trong hoàn cảnh ấy, được xem là đỉnh cao trong quá trình tiếp cận Phật học của Ngô Thì Nhậm, là một cố gắng đáng kể trong nỗ lực dung hợp Nho Phật của gần hai nghìn năm du nhập và phát triển ở nước ta nơi hai học thuyết ấy. Tác phẩm gồm 2 phần chính:
Phần đầu nhan đề là Tam Tổ Hành Trạng, tóm lược về cuộc đời của ba vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần (Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), dựa theo tư liệu từ sách Tam Tổ Thực Lục nhưng vắn tắt hơn.
Phần hai mang tên là Đại Chân Viên Giác Thanh, gồm 24 chương nói về 24 thanh, bàn về 24 vấn đề liên hệ tới giáo lý của Nho Phật. Mỗi chương có 3 phần:
Thanh dẫn: Nêu lên đặc tính của mỗi thanh, do Ngô Thì Hoàng hiệu là Hải Huyền, em cùng cha khác mẹ của Ngô Thì Nhậm viết.
Phần nhận xét: Do Ngô Thì Nhậm viết, có khi được trình bày dưới hình thức một cuộc tham vấn Thiền học, thỉnh thoảng kèm theo một số hình ảnh.
Lời bàn: Do Hải Âu tức Vũ Trinh em rể thi hào Nguyễn Du và Ngô Đăng Sở hiệu là Hải Hòa viết.
Ngoài ra, còn có phần Đại Chân Viên Giác Thanh Tiểu Khấu, do Hải Điền tức Nguyễn Hành, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, viết. Cách tổ chức mỗi chương như thế rõ ràng là mô phỏng theo hình thức Niêm Tụng Kệ của nhà Thiền. Danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm được nêu lên 24 lần, mỗi lần là một tên khác nhau để phối hợp với một thanh, là vì vị Bồ tát nầy nhờ quan sát âm thanh của thế gian mà chứng đắc viên thông. Như vậy, 24 chương của sách chính là 24 đề tài Thiền quán, mỗi đề tài là một thứ âm thanh (61).
4. Kinh đô Thăng Long vào thời nhà Nguyễn:
a. Kinh đô Thăng Long vào thế kỷ 19, với những ngôi Già Lam đã có hoặc mới tạo lập như Liên Tông, Vân Trai, Thiền Quang, Hàm Long… đều đã là trụ xứ hóa đạo của các Thiền sư Phúc Điền, Tịch Truyền, Chiếu Khoan, Phổ Tịnh, Thông Vinh… là những bậc danh Tăng của Phật giáo Việt Nam thế kỷ 19. Chư vị đều là hàng tu hành đạt đạo, có thơ kệ để lại cho đệ tử, những thơ kệ ấy tuy ít, nhưng có giá trị lớn về Thiền học, cũng là những đóng góp cho Văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ 19. Như kệ của Thiền sư Tịch Truyền:

Tâm vi thiên địa tiên
Thân vi thiên địa hậu
Thân tâm thiên địa nội
Tuần hoàn vô cùng kỷ.
(Tâm có trước đất trời
Thân có sau trời đất
Đất trời bọc thân tâm
Xoay vần bao giờ mất).
Nguyễn Lang dịch (62).
Hoặc Bài Kệ của Thiền sư Thông Vinh:
Tâm không cảnh tịch
Siêu việt Thánh phàm
Ý nhiễm tình sinh
Ràng buộc trăm mối.
Các pháp nhân thiên
Đều tại nơi ấy
Ta người nhất thể
Nguồn gốc là tâm.
Nguyễn Lang dịch (62).

b. Một vài tác phẩm chữ Hán, văn xuôi, mang tính Bút ký của văn học cổ điển Việt Nam thế kỷ 19 như Tang Thương Ngẫu Lục của Nguyễn Án (1770 – 1815) và Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ, ít nhiều đều có viết về kinh đô Thăng Long thông qua các chùa chiền, di tích v.v… có liên quan tới Phật giáo. Như sách Vũ Trung Tùy Bút đã nhắc tới chùa Trấn Quốc, chùa Bích Câu, chùa Tiên Tích nhân kể lại một vài nét sinh hoạt của vua quan thời Lê Trịnh (63). Hoặc như Tang Thương Ngẫu Lục viết về chùa Kim Liên, tháp Báo Thiên. Bài Tháp Báo Thiên do Tùng niên Phạm Đình Hổ viết. Tháp Báo Thiên là một trong An Nam tứ đại khí, đã bị tướng của quân Minh là Vương Thông cho phá sập vào năm 1426 để lấy gạch đá xây đắp thêm nơi thành trong khi chúng bị quân của Bình Định vương Lê Lợi bao vây. Nơi bài viết ấy, Phạm Đình Hổ cho biết: Năm 1791, lúc đào bới đất tại nền tháp để lấy đất đá đắp thành, người ta đã tìm thấy tám pho tượng kim cang, các hình tượng người tiên, chim muông, rất nhiều giường ghế chén bát đều bằng đá, các viên gạch đều có in niên hiệu Long Thụy Thái Bình (Niên hiệu đầu của đời vua Lý Thánh Tông, từ 1054 – 1058) (64).
c. Nhiều nhà văn, nhà thơ, danh sĩ của thế kỷ 19 đã viết về Hồ Tây cùng các ngôi chùa quanh hồ như chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên v.v… toàn bộ cái tổng thể ấy là biểu tượng cho vẻ đẹp của Thăng Long, một vẻ đẹp vừa hoành tráng vừa thanh thản, vừa mênh mông vừa sâu lắng.
* Phần nhiều các bài thơ viết về Hồ Tây đều có những ghi nhận về hình ảnh ngôi chùa, tiếng chuông chùa v.v… Ngay nơi bài phú khá dài đầy điển tích Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng cũng nói đến: Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, Chùa Trấn Quốc tưởng in vùng Tĩnh Phạm… (65).
* Các danh sĩ, các nhà thơ như Phạm Quý Thích (1760 – 1825), Cao Bá Quát (1809 – 1855), Tùng Thiện Vương (1819 – 1870), Vũ Tông Phan (1804 – 1862), Phan Văn Ái (1850 – 1898)… đều có những vần thơ viết rất đạt về các chùa Trấn Quốc, Tây Hồ, Châu Lâm, Một Cột.
Đây là bài thơ ngũ ngôn gồm 12 câu của Cao Bá Quát viết về chùa Tây Hồ (Tây Hồ Tự):

Dấn nắng lội ven bờ
Chùa Tây Hồ gặp mặt
Vất vả vài bạn bè
Cùng theo nhau tới hết.
Xin xem người đời xưa
Trải việc bao đời trước
Người đi không trở về
Vinh hoa cùng sáng suốt.
Tôi nghe nói ông Pha
Chân trắng khinh sống chết
Có thể bàn nghiệp duyên
Thử hỏi nghĩa đệ nhất.
Bùi Hạnh Cẩn dịch (66).

Tùng Thiện Vương Miên Thẩm viết về chùa Một Cột:

Hoa sen từ nước lạnh
Chùa điện không bụi rơi
Đêm sâu chòm sao lặng
Lời thiền nghe ngang trời.
Bùi Hạnh Cẩn dịch (67).
(Liên hoa xuất hàn thủy
Pháp tọa vô trần ai
Dạ thâm tinh đẩu tĩnh
Phạm âm không tế lai).

Vũ Tông Phan viết về: Nhà sư về chùa Trấn Quốc:

Chùa vắng ven hồ gối sóng trong
Nơi nao Hòa thượng mới về xong
Thơ ngâm bên nước trong chiều xế
Dây quấn xanh mây giữa khóm hồng.
Bóng lẻ trúc trăng lần lữa ngắm
Bạn xưa mây nhạn gặp nhau mừng
Quay nhìn thành thị bao phiền não
Thế giới ba ngàn một vượt tung.
Bùi Hạnh Cẩn dịch (68).

V. Kinh đô Thăng Long trong Văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ 20: Gần một nửa thời gian của thế kỷ 20, kinh đô Thăng Long – Hà Nội cũng như khắp cả nước còn phải sống trong vòng nô lệ dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Rồi cách mạng tháng 8 /1945 thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, Thăng Long – Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam dân chủ, tự do. Tiếp theo là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập thắng lợi, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Lại tiếp đến là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975), thủ đô Thăng Long – Hà Nội đã chuyển mình đổi mới để xứng tầm là thủ đô của đất nước trong thời đại mới. Cũng như hơn 900 năm của quá khứ, văn học Phật giáo Việt Nam vẫn tiếp tục đồng hành. Có thể chia làm 4 giai đoạn:
1. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội trước năm 1934: Tuy kinh đô của triều Nguyễn là Huế, nhưng Thăng Long Hà Nội mới là nơi chốn quy tụ của sinh hoạt báo chí, sinh hoạt văn học khi có hoàn cảnh tương đối thích hợp.
* Năm 1920, Phạm Quỳnh (1892 – 1945) viết Phật giáo lược khảo (*) (Nam Phong số 40, tháng 10/1920, sau in trong Thượng Chi Văn Tập, tập 4). Đây là tác phẩm viết bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên khảo cứu về Phật học tương đối nghiêm túc của giới trí thức Việt Nam thế kỷ 20.
* Năm 1927, Tiến sĩ Đinh Văn Chấp (1893 – ?), trên Tạp chí Nam Phong các số 114, 115, 116 đã cho đăng các bản dịch về thi ca thời Lý – Trần của mình gồm 113 bài, trong ấy có nhiều bài là thi kệ của các Thiền sư, mở đầu cho công việc dịch thơ Thiền thời Lý Trần.
* Năm 1932, Thúc Ngọc Trần Văn Giáp (1898 – 1973) đã cho đăng Thiên khảo cứu về Phật giáo Việt Nam viết bằng tiếng Pháp: Le Bouddhisme en AnNam, des origines au 13 siècle trên Tập san BEFO, Hà Nội. Có thể gọi là công trình đầu tiên về Phật sử Việt Nam công bố trong giới học giả quốc tế (69).
* Năm 1933, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902 – 1954) – lúc nầy lấy hiệu là Lạc Khổ, chưa lấy hiệu Thiều Chửu – đã dịch sách Khóa Hư Lục, in 100 cuốn, mang tên là Khóa Hư Kinh Dịch Nghĩa. Sau đấy, ông cho đăng lại trên Tạp chí Đuốc Tuệ từ năm 1939 – 1941. (Năm 1961, nhà in Hưng Long ở Sài Gòn đã tái bản dịch phẩm của Thiều Chửu).
* Năm 1933, trên Tạp chí Nam Phong số 189, tháng 10/1933, Nguyễn Trọng Thuật (1883 – 1940) đã viết bài Bình luận về sách Khóa Hư, mở đầu cho công việc nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm nầy. Năm 1939, ông sửa lại bài ấy rồi cho đăng trên Tạp chí Đuốc Tuệ (số 112 - 116).
2. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội vào thời kỳ Phật giáo chấn hưng 1934 – 1945:
a. Phong trào chấn hưng Phật giáo phát khởi từ miền Nam, miền Trung rồi đến miền Bắc. Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập năm 1934, Tạp chí Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của Hội chính thức hoạt động từ tháng 12/1935, đều đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ – Hà Nội. Ngoài Đuốc Tuệ còn có Tạp chí Tiếng Chuông Sớm của Sơn môn Linh Quang, trụ sở tại chùa Bà Đá (Hà Nội) hoạt động từ tháng 6/1935 đến tháng 5/1936. Đây là giai đoạn Phật giáo Bắc Kỳ cũng như Phật giáo cả nước đã dốc sức tạo sự chuyển biến nhằm phát huy nội lực trong hoàn cảnh mới. Xét về phương diện văn học Phật giáo, thành tựu đáng kể nhất của Hội Phật giáo Bắc Kỳ là đã khắc in Bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San, ấn hành với sự bảo trợ của Trường Viễn Đông Bác Cổ (1940). Đến năm 1943, các tác phẩm đã được ấn hành như: Thiền Uyển Kế Đăng Lục (1 tập). Pháp Hoa Đề Cương (1 tập). Bát Nhã Trực Giải (1 tập). Khóa Hư Lục (1 tập). Trần Triều Dật Tồn Điển Lục (1 tập).
b. Một số thành tựu về nghiên cứu, sáng tác của các nhà văn, học giả có những gắn bó với Tạp chí Đuốc Tuệ:
* Trần Trọng Kim (1882 – 1953): Phật giáo trong ba bài diễn thuyết (1935). Phật lục (1940).
* Nguyễn Trọng Thuật (1883 – 1940): Bình luận về sách Khóa Hư (1933 – 1939). Phật giáo tân luận (1934 – 1935). Thiền tông thế hệ (1935…). Cô con gái Phật hái dâu (Truyện – 1935).
* Bùi Kỷ (1887 – 1960): Nghĩa chữ không trong đạo Phật (1935).
* Sở Cuồng Lê Dư (? – ?): Phổ Chiêu Thiền sư thi văn tập.
* Nguyễn Văn Ngọc (1890 – 1942): Thuyết nghiệp báo.
* Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902 – 1954): Dịch Khóa Hư Lục (1933 – 1939). Sự tích Phật tổ diễn ca (1935). Bốn mươi tám pháp niệm Phật. Dịch một số kinh Phật (Kinh Lễ Sáu Phương, Kinh Di Giáo, Kinh Bốn Mươi Hai Chương). Biên soạn Hán Việt Tự Điển (1941)…
c. Ngoài ra, còn kể đến:
* Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902 – 1977), trên Tạp chí Tri Tân (1942) đã phân tích về bố cục của sách Khóa Hư Lục cùng bước đầu đánh giá về nghệ thuật hành văn của các tác giả.
* Một số tác phẩm biên khảo về văn hóa, văn học Việt Nam như: Việt Nam Văn Hóa Sử Cương (*) (1938) của Đào Duy Anh (1904 – 1988). Việt Nam Văn Học Sử Yếu (*) (1941) của Dương Quảng Hàm (1898 – 1946). Văn Học Đời Lý – Văn Học Đời Trần (*) (1942) của Ngô Tất Tố (1894 – 1954). Việt Nam Cổ Văn Học Sử (*) (1942) của Nguyễn Đổng Chi (1915 – 1984)… cũng đều dành một số trang để viết về Phật giáo, Phật học và Phật giáo Việt Nam.
3. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội trong thời kỳ hòa bình lập lại ở miền Bắc và trong chiến tranh chống Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam: Trong khoảng thời gian hơn 20 năm (1954 – 1975), xã hội miền Bắc sau chiến tranh đã phải nhanh chóng chuyển đổi theo hướng đổi mới, rồi lại phải dốc sức cho cuộc chiến đấu chống Mỹ giải phóng miền Nam vô cùng gian khổ, vì thế Phật giáo nói chung, văn học Phật giáo đồng hành với kinh đô Thăng Long – Hà Nội nói riêng tất không có đủ phương tiện để phát huy. Xin ghi nhận một vài thành tựu khiêm tốn:
a. Năm 1961, toàn bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm do Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897 – 1969) Việt dịch và chú giải đăng trên Tạp chí Viên Âm – cơ quan ngôn luận của Hội An Nam Phật Học (1932) trước đây, giờ được xuất bản. Ấn bản nầy, vào năm 1973, gia đình của Cư sĩ Tâm Minh ở Sài Gòn đã cho tái bản 3000 cuốn (500 cuốn ấn tống), góp phần phổ biến bản Việt dịch công phu, có giá trị của một Bộ Kinh quý, Bộ Kinh mà nhà Bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong sách Kiến Văn Tiểu Lục đã hết lời ca ngợi (70). Nơi phần đầu – cuối của ấn bản ấy, Dịch giả Tâm Minh đã viết Lời Nói Đầu và Lời Sau Cùng rất có giá trị về Phật học (71), theo Giáo sư Nguyễn Lang thì với bài Lời Nói Đầu ấy “Có thể tóm tắt được nhận thức của ông – Cư sĩ Tâm Minh – về Phật học Đại thừa” (72).
b. Khoảng 1970, Hòa thượng Trí Hải (1906 – 1973) đã cộng tác với Viện Triết Học ở Hà Nội dịch các tác phẩm Khóa Hư Lục, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Hòa thượng Trí Hải trước đấy đã có các tác phẩm như: Truyện Phật Thích Ca (Thơ lục bát 1951). Phật Với Chúng Sinh. Thiện Ác Báo Ứng…
c. Năm 1974, tác phẩm Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông do Học giả Đào Duy Anh (1904 – 1988) dịch, chú giải (1970 – 1972) được xuất bản (Nhà xb KHXH). Trong dịch phẩm nầy, sau Lời Đầu Sách, Đào Duy Anh còn viết bài: Nói tóm tắt về Thiền tôn, tuy ngắn nhưng vẫn đủ vóc dáng của một sự nghiên cứu, rất có ích đối với giới Phật học Việt Nam, nhất là lớp trẻ. Điều cần bàn thêm ở đây là, Học giả Đào Duy Anh đã đánh giá tuy vắn tắt nhưng rất xác đáng về ảnh hưởng của Thiền học đối với các tác giả lớn trong văn học cổ điển Việt Nam như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du (73). Về sau, đọc sách Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, Hồi ký của Đào Duy Anh, nhất là nơi chương XII: Nghiên cứu Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo (74), chúng tôi mới hiểu thêm rằng, bản dịch sách Khóa Hư Lục ấy chính là kết quả, là sự khẳng định cho sự chuyển hướng trong thái độ của Học giả Đào Duy Anh đối với Phật giáo và Phật giáo Việt Nam. Đây là những nhận xét mang tính khám phá của Đào Duy Anh về hai vị vua nhà Trần: “Trần Thái Tôn là vua sáng nghiệp nhà Trần, lại là tác giả sách Khóa Hư Lục, là tác phẩm tiêu biểu của Thiền tôn ở đời Trần, và Trần Nhân Tôn là vị vua anh hùng của nhà Trần, mà lại là Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm trong Thiền tôn Việt Nam, cả hai người đều kết hợp một cách tốt đẹp hoạt động tu hành và hoạt động kinh bang tế thế (75)”.
4. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội sau ngày đất nước thống nhất 30/04/1975: Đất nước thống nhất, sinh lực của dân tộc được nối kết tập hợp và sinh lực của Phật giáo Việt Nam cũng được nối kết tập hợp. Các tác phẩm sau đây được các nhà xb lớn ở Hà Nội tái bản hoặc xuất bản cũng có thể xem là: Văn học Phật giáo Việt Nam đồng hành với kinh đô Thăng Long trong hơn hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 20:
* Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm và các Thiền hữu, do Giáo sư Cao Xuân Huy dịch, nhà xb KHXH, 1978. Ở miền Nam trước 1975, có bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải, mang tên: Tam Tổ Hành Trạng, xb 1971. 
* Phật giáo và Lịch sử tư tưởng Việt Nam. Nhiều người viết, Viện Triết Học xb, 1986. Đáng chú ý nhất là Bài Đạo Phật và Một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Giàu, trong ấy Giáo sư Giàu đã nhận định: “Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn liền với Phật giáo”. (Trang 15)
* Thiền Uyển Tập Anh, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích. Nhà xb Văn Học – Phân viện Nghiên cứu Phật học Hà Nội xuất bản, 1990.
* Bộ sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận 1, 2, 3 của Giáo sư Nguyễn Lang (Do Lá Bối xuất bản) đã được nhà xb Văn Học tái bản.
* Đáng chú ý nhất là bộ sách Thơ Văn Lý Trần I, II, III, nhà xb KHXH xuất bản: Tập I: 1977, trên 600 trang. Tập III: 1978, trên 800 trang. Tập II: 1988, trên 950 trang. Đây là một công trình biên dịch đồ sộ, công phu, tập hợp giới thiệu thơ văn của các tác giả trong năm thế kỷ văn học Việt Nam: Từ đầu thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV, trong đó văn học Phật giáo đã giữ vai trò chủ đạo.
* Ngoài ra, một số tác phẩm chữ Hán của các tác giả trong văn học cổ điển Việt Nam cũng được biên dịch, xuất bản như: Nguyễn Trãi Toàn Tập (1976). Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn (1977). Tuyển Tập Thơ Văn Ngô Thì Nhậm 1, 2 (1978). Thơ Văn Lê Thánh Tông (1986). Nguyễn Du Toàn Tập 1, 2 (1996)… góp phần làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đối với các tác giả kể trên cũng như đối với văn học cổ điển Việt Nam.
Kết luận: 10 năm của thế kỷ 21 là 10 năm của đất nước tiếp tục con đường mở cửa và hội nhập. Phật giáo Việt Nam trong nỗ lực để cùng đi tới theo dòng chảy lịch sử đã luôn cố gắng vận dụng nội lực để luôn khế cơ mà vẫn khế lý. Đồng hành với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội là quá khứ, là hôm qua mà cũng là hiện tại, là hôm nay, lại cũng là vị lai là ngày mai, bởi vì có quá khứ là có hiện tại, có vị lai. Xin chấp tay nguyện cầu cho sự nối kết giữa Phật giáo và dân tộc đất nước theo truyền thống hộ quốc an dân mãi mãi trường tồn.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 04 tháng 07 năm 2010.

Phần Ghi Chú:
(*) Về danh xưng Văn học Phật giáo Việt Nam, nội dung và lịch sử phát triển, chúng tôi đã biện dẫn đầy đủ nơi bài viết: “Bước đầu đề xuất một chương trình giảng dạy Văn học Phật giáo Việt Nam”, Nguyệt San Giác Ngộ các số 143 –> 148, tháng 2 –> 7 năm 2008.
(1) Trụ Vũ, Hành Hương, Thơ, nhà xb Lá Bối, S, 1964, trang 11.
(2) Lịch sử Việt Nam tập 1, nhiều tác giả, nhà xb Đại Học và THCN, 1983, trang 408 – 409.
(3) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 1, 1978, trang 35 dịch, 136 Hán.
(4) Thiền Uyển Tập Anh, Ngô Đức Thọ dịch, 1990, trang 180 – 181. Tham khảo bản Việt dịch của Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I:

Vận nước như dây quấn
Trời Nam ôm thái bình
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh.

(VNPGSL I, 1992, trang 158).
(5) Tập San Văn số 29, tháng 5/1994.
(6) Từ Hải, Tối Tân Tăng Đính Bản, Đài Loan, 1994, Tập Trung, trang 2846A.
(7) Bài “Về tác giả và thời điểm ra đời Bài Thơ Thần, Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của nước Việt Nam”. Nguyệt San Giác Ngộ số 105, tháng 12 năm 2004.
(8) Lê Mạnh Thát: Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 2, nhà xb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 482 – 484.
(9) Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Đại Học Vạn Hạnh tái bản, 1967, trang 432.
(10) Trần Văn Giàu: Đạo Phật và một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam, in trong Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Viện Triết Học xb, H, 1986, trang 15.
(11) Phan Đại Doãn: Thế kỷ X – Những vấn đề lịch sử, nhà xb KHXH, 1984, trang 271.
(12) Bài: Tìm hiểu lịch sử triều Lý. Tập San Văn số 38 tháng 5 năm 1997.
(13) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, 1992, trang 152.
(14) Lê Mạnh Thát: Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 2, Sđd, trang 593 – 615.
(15) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 163.
(16) Văn Học Đời Lý, 1960, trang 52.
(17) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 135.
(18) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 136.
(19) Xem: Thiền Uyển Tập Anh, Sđd, trang 54 – 75.
(20) Thiền Uyển Tập Anh, Sđd, trang 91. Bản dịch của Hoa Bằng, câu 3: Sắc không đều chẳng quản, chúng tôi xin biên tập lại là: Sắc không đều vô ngại. 
(21) Hoàng Trọng Miên: Việt Nam Văn Học Toàn Thư tập 2, nhà xb Văn Hữu Á Châu, S, 1960, trang 227 – 231.
(22) Chuyện Ỷ Lan, Hoàng Xuân Hãn giới thiệu, diễn nghĩa, hiệu đính, chú thích. Tập Văn số 29, tháng 5/ 1994, trang 23 – 24.
(23) Nguyễn Lang: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 3, nhà xb Lá Bối, Paris, 1985, trang 155.
(24) Dẫn theo Thơ Văn Lý Trần tập 2, 1989, trang 705.
(25) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 420.
(26) Nguyễn Bá Lăng: Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam tập 1, 1972, trang 106.
(27) Thơ Văn Lý Trần tập 2, Sđd, trang 704 – 705.
(28) Bài “Qua việc khai quật khảo cổ học Thăng Long…” in trong Tản Mạn Phú Xuân 2, 2006, trang 43.
(29) Nguyễn Đăng Thục: Phật Giáo Việt Nam, 1974, trang 79.
(30) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 229.
(31) Thơ Văn Lý Trần tập 3, 1978, trang 116.
(32) Thơ Văn Lý Trần tập 1, 1977, trang 311.
(33) Thơ Văn Lý Trần tập 1, Sđd, trang 365.
(34) Luận Chỉ Quán, Hth Trí Quang dịch, 1995, trang 15.
(35) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 267.
(36) Phan Huy Chú: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí – Văn Tịch Chí. Bản dịch của Viện Sử Học Việt Nam, 1992, tập 3, trang 85.
(37) Thơ Văn Lý Trần II, Sđd, trang 21.
(38) Đào Duy Anh: Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, HK, 1989, trang 194. 
(39) Mai Quốc Liên: Ngô Thì Nhậm trong Văn học Tây Sơn, 1985, trang 191.
(40) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 360 – 361.
(41) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Sđd, trang 468.
(42) Dẫn theo: Văn Học Việt Nam I của Phạm Văn Diêu, nhà xb Tân Việt, S, 1960, trang 619.
(43) Dẫn theo: Thơ Văn Lý Trần III, 1978, trang 515 – 516.
(44) Tuấn Nghi và Nguyễn Đức Vân dịch. Thơ Văn Lý Trần III, Sđd, trang 677 – 678. Xem: Nam Ông Mộng Lục, nguyên văn chữ Hán và bản dịch in trong Thơ Văn Lý Trần III, Sđd, trang 676 – 741.
(45) Xem thêm Bài viết của Đào Nguyên: Âm vang của Phật giáo trong tác phẩm Nam Ông Mộng Lục. Tập San Văn số 49 tháng 1/2001.
(46) Bài: Bàn về một phương pháp khoa học tích cực trong công trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Nguyệt San Giác Ngộ số 82, tháng 1/2003.
(47) Thơ Văn Lê Thánh Tông, nhà xb KHXH, 1986, trang 93 – 94.
(48) Thơ Văn Lê Thánh Tông, Sđd, trang 146.
(49) Lê Mạnh Thát: Bài đã dẫn. Nguyệt San Giác Ngộ số 82, 83 tháng 1, 2/2003. Nơi sách Từ Điển Văn Học Việt Nam, mục: Phật giáo và Văn học Việt Nam (Trang 493 – 496), ông Lại Nguyên Ân đã sắp vua Lê Thánh Tông vào loại: Một số tác gia sùng Nho bài Phật thể hiện tư tưởng nầy trong một số sáng tác. Chúng tôi đã biện chính rất đầy đủ nơi bài viết: Góp ý biện chính về phần Phật giáo và Văn học Việt Nam trong sách Từ Điển Văn Học Việt Nam. Nguyệt San Giác Ngộ số 110, 111, 112, tháng 5, 6, 7/2005.
(50) Bùi Hạnh Cẩn, Sđd, nhà xb Văn Hóa Thông Tin, 1996, trang 62 – 63.
(51) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 2, nhà xb KHXH, 1978, trang 131 Hán, trang 35 dịch. Bản dịch thơ chúng tôi đã biên tập lại.
(52) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 2, Sđd, trang 129 Hán, trang 31 dịch.
(53) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 1, Sđd, trang 105 – 107 Hán, trang 191 – 192 dịch.
(54) Dẫn theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II của Nguyễn Lang, 1992, trang 136 – 137.
(55) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 2, Sđd, trang 151 Hán, trang 66 dịch.
(56) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 2, Sđd, trang 66.
(57) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 1, Sđd, trang 138 Hán, trang 37 – 38 dịch.
(58) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 1, Sđd, trang 153 Hán, trang 61 dịch.
(59) Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội, tập 1, Sđd, trang 141 Hán, trang 42 dịch.
(60) Dẫn theo Văn Học Tây Sơn của Nguyễn Lộc, 1986, trang 296.
(61) Xem thêm: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 2 của Nguyễn Lang, Sđd, trang 267 – 293.
(62) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 2, Sđd, trang 326, 329.
(63) Vũ Trung Tùy Bút, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, bản in 1989, trang 12, trang 155.
(64) Tang Thương Ngẫu Lục, Đạm Nguyên dịch, S, 1970, tập 2, Truyện 39. Xem thêm: Bài Giếng cổ chùa Báo Thiên của Trần Đình Sơn, in trong: Tản Mạn Phú Xuân 2, 2006, trang 17 – 21.
(65) Dẫn theo 101 Bài Thơ Phú Tây Hồ, Bùi Hạnh Cẩn st bd, Sđd, trang 188.
(66) 101 Bài Thơ Phú Tây Hồ, Sđd, trang 96.
(67) 101 Bài Thơ Phú Tây Hồ, Sđd, trang 108 – 109.
(68) 101 Bài Thơ Phú Tây Hồ, Sđd, trang 140.
(69) Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III của Nguyễn Lang, Sđd, trang 159. Xem thêm: Bản Việt dịch của Tuệ Sĩ: Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ 13, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản, S, 1968.
(*) (*) (*)… Tất cả các tác phẩm đã nêu của Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Ngô Tất Tố, Nguyễn Đổng Chi, chúng tôi đều đã đọc lại phần liên quan đến Phật giáo – Riêng sách của Phạm Quỳnh thì đọc lại toàn bộ – để biểu dương phần ưu điểm cùng góp ý biện chính về những sai sót, sai lạc đối với Phật giáo, Phật học và Phật giáo Việt Nam v.v… đã có trong các tác phẩm ấy.
 (70) Xem: Kiến Văn Tiểu Lục, Phạm Trọng Điềm dịch, nhà xb KHXH, 1977, trang 369.
(71) Xem: Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Tâm Minh Lê Đình Thám dịch bản in 1973. Lời Nói Đầu (trang 21 – 25). Lời sau cùng (trang 1077 – 1086). 
(72) Nguyễn Lang: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III, Sđd, trang 109.
(73) Khóa Hư Lục, Đào Duy Anh dịch, Sđd, trang 23 – 24.
(74) Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, Hồi ký của Đào Duy Anh, nhà xb Trẻ, 1989, trang 188 – 199.
(75) Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, Sđd, trang 193 – 194. Xem thêm bài viết của chúng tôi: Đào Duy Anh và sách Khóa Hư Lục. Nguyệt San Giác Ngộ số 69, tháng 12/2001.

Thích Phước Sơn, Đào Nguyên.
(Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
tại Thành phố Hồ Chí Minh).

  • Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu
    1. Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo.
    Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu
  • Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật
    21. Không phóng dật, đường sống, Phóng dật là đường chết. Không phóng dật, không chết, Phóng dật như chết rồi.
    Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật
  • Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm
    33. Tâm hoảng hốt giao động, Khó hộ trì, khó nhiếp, Người trí làm tâm thẳng, Như thợ tên, làm tên.
    Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm
  • Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa
    44. “Ai chinh phục đất này Dạ ma, Thiên giới này? Ai khéo giảng Pháp cú, Như người khéo hái hoa?”
    Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa
  • Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu
    60. “Ðêm dài cho kẻ thức, Ðường dài cho kẻ mệt, Luân hồi dài, kẻ ngu, Không biết chơn diệu pháp.”
    Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu
^ Back to Top