không ưa ta, không thích ta.” Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không có ác dục, sẽ không bị ác dục chi phối.” “Người này khen mình, chê người, nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta khen mình, chê người, các người khác sẽ không ưa ta, sẽ không thích ta.” Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không khen mình chê người.” “Người này có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối, nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối”; “Người này phẫn nộ, vì vị phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận”; “Người này phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp”; “Người này phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không phẫn nộ, không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ”; “Người này bị buộc tội, trở lại chống đối vị đã buộc tội mình, nên ta không ưa người ấy... “Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chống đối vị buộc tội mình”; “Người này bị buộc tội, trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình, nên ta không ưa người ấy... “Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình”; “Người này bị buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của mình, nên ta không ưa người ấy... “Ta bị buộc tội sẽ không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ra ngoài vấn đề, và không để lộ phẫn nộ, sân hận bất mãn của mình”; “Người này bị buộc tội, không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết nên ta không ưa người ấy... “Ta bị buộc tội, sẽ giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết”; “Người này hư ngụy và não hại nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không hư ngụy và não hại”; “Người này tật đố và xan tham nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không tật đố và xan tham”; “Người này khi cuống và lường gạt nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không khi cuống và lường gạt”; “Người này ngoan mê và quá mạn nên ta không ưa người ấy... “Ta sẽ không ngoan mê và quá mạn”; “Người này chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta.” Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả.”
Chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau: “Không biết ta có ác dục, có bị ác dục chi phối không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có ác dục và bị ác dục chi phối,” thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có ác dục, không bị ác dục chi phối,” thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp. Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau: “Không biết ta có khen mình, chê người hay không?”... “Ta không khen mình, chê người”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối không...?”... “Ta không có phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân, trở thành có hiềm hận không?”... “Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người hiềm hận”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp không?”... “Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ không?”... “Ta không có phẫn nộ, không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ”... các thiện pháp. Lại nữa... “Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chống đối vị đã buộc tội ta không?”... “Ta bị buộc tội, ta không trở lại chống vị đã buộc tội ta”... các thiện pháp. Lại nữa... “Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta không?”... “Ta bị buộc tội, ta không trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta”... các thiện pháp. Lại nữa... “Ta bị buộc tội, không biết ta có tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của ta không?”... “Ta bị buộc tội, ta không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ngoài vấn đề, và ta không để lộ sự phẫn nộ, sân hận và bất mãn của ta”... các thiện pháp. Lại nữa... “Ta bị buộc tội, không biết ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết không?”... “Ta bị buộc tội, ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có hư ngụy và não hại không?”... “Ta không có hư ngụy và não hại”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có tật đố và xan tham không?”... “Ta không có tật đố và xan tham”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có khi cuống và lường gạt không?”... “Ta không có khi cuống và lường gạt”... các thiện pháp. Lại nữa... “Không biết ta có ngoan mê và quá mạn không?”... “Ta không có ngoan mê và quá mạn”... các thiện pháp. Lại nữa, chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã như sau: “Không biết ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả,” thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ những ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả,” thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.
Chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp đã được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp. Chư Hiền, ví như một phụ nữ hay một đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang điểm, tự quán sát mặt mày của mình trong một tấm kính sạch sẽ và trong suốt, hay trong một bát nước trong sáng. Nếu người ấy thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy tinh tấn đoạn trừ bụi bặm hay cấu uế ấy. Nếu người ấy không thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy sẽ hoan hỷ nghĩ rằng: “Thật sự ta được điều tốt đẹp, thật sự ta được thanh tịnh.” Cũng vậy chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng các ác, bất thiện pháp đã đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.
Tôn giả Mahāmoggallāna thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Tôn giả Mahāmoggallāna.