Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Sách, tài liệu, ấn phẩm xuất bản / Sách Nghiên Cứu

Tư tưởng Phật giáo

Tư tưởng Phật giáo

Những thành quả của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

(Báo Giác Ngộ số 40, năm 1992)

 Phật giáo Việt Nam gắn liền với dân tộc Việt Nam qua quá trình lịch sử gần 2.000 năm. Kế thừa truyền thống tốt đẹp ấy, trong suốt hơn mười năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức duy nhất hợp pháp của nước Việt Nam.

 Từ năm 1981 đến nay, tuy thời gian không dài, nhưng cũng đủ để Giáo hội thực hiện được một số thành quả đáng kể về mọi mặt. Thí dụ như thống kê tự viện, giáo dục Tăng Ni, hoằng truyền chánh pháp, phát triển văn hóa, hoặc các hoạt động ích nước lợi dân, từ thiện xã hội. Tất cả những hoạt động thành công đã đặt nền móng cho hướng đi lên của Giáo hội được thuận lợi.

Trước nhất là thành đạt mục tiêu hoạt động mà Giáo hội đề ra trên căn bản thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổchức. Thật vậy, trong quá trình phát triển Phật giáo Việt Nam, về mặt hình thành tổ chức, thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay tiêu biểu cho mô hình tổ chức đầu tiên đã thành côngtrong việc thống nhất tất cả hệ phái Phật giáo, mà vẫn tôn trọng các sắc thái biệt truyền và các pháp môn phương tiện tu hành đúng chánh pháp.

Điển hình như trong các ngành hoạt động của Giáo hội trong hơn mười năm, từ cấp trung ương cho đến tỉnh thành, chúng ta nhận thấy rõ sự hiện diện đầy đủ của chư tôn đức lãnh đạo đại diện cho các hệ phái. Tất cả đã cùng nhau sinh hoạt hài hòa, vui vẻ, ngày càng gắn bó, hiểu biết nhau hơn. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử truyền giáo, chúng ta đã cởi bỏ được những dị biệt về màu áo bên ngoài, dung hòa những dị biệt về nhận thức và phương pháp tu học, để hòa hợp, cùng nhau xây dựng ngôi nhà Phật giáo trên cơ sở Hiến chương của Giáo hội.

Sinh hoạt đoàn kết thống nhất của Giáo hội còn thể hiện rõ nét qua hoạt động của ngành Tăng sự, một ngành đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sinh hoạt của Giáo hội. Với sự phối hợp đồng bộ về tinh thần trách nhiệm của Ban Tăng sự Trung ương, Ban Trị sự các tỉnh thành và Tăng Ni cả nước, công tác thống kê tự viện, lập danh bộ Tăng Ni và cấp chứng nhận Tăng sĩ chính thức của Giáo hội, đã hoàn thành tốt đẹp. Hầu hết Tăng Ni và tự viện đều đặt dưới quyền quản lý của Giáo hội.

Công việc ổn định về mặt quản lý cơ sở và thành viên trong toàn Giáo hội đã tạo cho Giáo hội có một sức mạnh thực chất về tổ chức, về con người, và các mặt hoạt động khác.

Ngoài ra, công tác xây dựng hệ thống giáo dục, đào tạo Tăng tài cũng được Giáo hội rất quan tâm, đặt vào một trong sáu điểm của chương trình hoạt động của Giáo hội. Để đào tạo lớp Tăng Ni trẻ có tinh thần yêu nước, có trình độ Phật học, có tri thức khoa học, xứng đáng kế thừa việc truyền trì đạo mạch của Như Lai; trong những năm gần đây, Giáo hội đã thành lập được 16 trường cơ bản Phật học ở các tỉnh thành, mà hàng ngàn Tăng Ni còn đang theo học. Hàng trăm Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp trường Cao cấp Phật học cơ sở 1 và 2.

Chúng tôi thiết nghĩ với số lượng Tăng Ni trẻ tuổi trí thức được đào tạo như vậy, trong tương lai, Giáo hội sẽ có đủ nhân tài để kế thừa, đảm đương hoạt động của Giáo hội. Điểm nổi bật trong các trường Phật học từ cơ bản đến cao cấp, đều có đủ thành phần Tăng Ni thuộc Phật giáo Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ, Phật giáo các dân tộc.

Tuy các Tăng Ni với màu áo sinh hoạt khác nhau, nhưng đều cùng thống nhất tu học chung trường lớp, với sự cảm thông trong tình pháp lữ. Đây cũng là một chuyển biến mới trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam. Qua chương trình học, Tăng Ni sinh tiếp thu được những tinh ba của Phật giáo trong mối quan hệ với các tư tưởng triết học, sử học. Từ đó, Tăng Ni sinh có nhận thức đúng đắn về đạo Phật nói chung và vai trò của Phật giáo Việt Nam nói riêng, trong thời đại ngày nay. Trường cũng trang bị cho Tăng Ni sinh khả năng về Anh văn, cổ ngữ, Hán văn, để có thể nghiên cứu Phật học sâu hơn ở các lớp chuyên cao.

Bên cạnh sinh hoạt giáo dục, vấn đề an cư kiết hạ, khai đàn truyền giới cũng được Giáo hội lưu tâm. Năm nay có 26 đơn vị tỉnh, thành hội tổ chức an cư tập trung cho gần 12.000 Tăng Ni cả nước và khoảng 3.000 Tăng Ni đăng ký an cư tại chỗ.

Với chương trình an cư kiết hạ hàng năm của Giáo hội, chẳng những giữ gìn truyền thống chánh pháp của chư Phật, mà còn tạo cơ hội thuận lợi cho Tăng Ni thể nghiệm sự tu học theo tinh thần Lục Hòa. Tại mỗi trường hạ, đại chúng đều thể hiện nếp sống an vui, hòa hợp, tăng trưởng giới đức, phạm hạnh.

Trên tinh thần nuôi dưỡng tam vô lậu học : giới, định, tuệ, các trường hạ tổ chức thực tập diễn giảng cho các Tăng Ni sinh. Việc làm này đã tạo không khí tu học sinh động cho trường hạ và mở ra hướng đi tương lai cho các nhân tài trẻ có năng khiếu trong ngành diễn giảng.

Nhờ công đức tu hành thanh tịnh, hầu hết các trường hạ luôn được tín đồ Phật tử đến thăm viếng, cúng dường. Tăng Ni có đầy đủ phương tiện tu học trong ba tháng.

Đối với hoạt động hoằng pháp lợi sinh, điểm đặc biệt là những giảng đường lớn đã tổ chức thuyết pháp định kỳ hàng tuần. Thành phần giảng sư gồm đủ Tăng sĩ của các hệ phái, nhưng việc giảng dạy không hề chống trái nhau. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hàng trăm giảng sư được phân công giảng dạy tại các trường hạ, hay các lớp Bát Quan trai, hoặc vào những ngày lễ lớn. Riêng những tỉnh có yêu cầu, Ban Hoằng pháp cũng phân bổ giảng viên đến giảng dạy trong mùa an cư.

Ngoài ra, để công việc chọn lựa tài năng trẻ của ngành hoằng pháp được xúc tiến sâu rộng, Ban Hoằng pháp phối hợp với Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thi diễn giảng cho Tăng Ni thành phố và các tỉnh miền Đông Nam bộ. Tăng Ni dự thi đều là những người đã đạt giải nhất nhì tại các trường hạ địa phương. Nhờ đó, chúng tôi tuyển chọn được một số giảng sư trẻ nhiều triển vọng.

Mặt khác, Ban Hoằng pháp cũng tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn cho giảng sư, để triển khai phương châm hành động của Giáo hội. Đồng thời, đề ra phương cách ứng dụng giáo lý linh hoạt, phù hợp với cuộc sống hiện tại và đúc kết những bài giảng mẫu về kinh, luật, luận, giảng dạy tại các trường hạ thành phố. Một đợt tập huấn chung cũng được tổ chức cho giảng sư của thành hội, Ban Đại diện Phật giáo 17 quận huyện và Tăng Ni sinh tốt nghiệp cao cấp Phật học khóa 1.

Về phần thuyết giảng cho Phật tử tu học đúng chánh pháp được tổ chức vào chủ nhật hằng tuần tại các giảng đường lớn của chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Vĩnh Nghiêm, Giác Lâm, Kỳ Viên, Trung Tâm Tịnh xá. Phật tử thính pháp gồm đủ tín đồ của các hệ phái cùng hòa hợp, hoan hỷ tiếp thu giáo lý sinh động do bất cứ giảng sư nào thuyết giảng; không phân biệt vị đó thuộc tông phái này hay tông phái khác.

Về hoạt động của ngành văn hóa Phật giáo cũng đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Tờ bán Nguyệt san Giác Ngộ trên danh nghĩa là tờ báo của Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh; nhưng thực tế do yêu cầu của Tăng Ni, Phật tử, tờ báo đã được sự ủng hộ và lưu hành trong cả nước. Ngoài ra, chúng ta còn có tập Văn của Ban Văn hóa Trung ương xuất bản định kỳ một năm ba lần vào ngày lễ Phật đản, Vu lan, Thành đạo.

Cả hai tờ báo nội dung phong phú, đa dạng, giúp cho Tăng Ni, Phật tử nghiên cứu giáo lý đạo Phật và văn học lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đồng thời tờ báo cũng phổ biến chủ trương đường hướng hoạt động của Giáo hội, các hoạt động quốc tế của Giáo hội trong lãnh vực hòa bình thế giới; cũng như theo dõi đường lối của chính quyền Mặt trận và thông tin thời sự trong nước và quốc tế.

Bên cạnh hai tờ Giác Ngộ và tập Văn, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh cũng như Viện Nghiên cứu Phật học đã cho xuất bản và tái bản nhiều kinh sách Phật giáo có giá trị. Riêng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã gánh vác trọng trách lớn lao trong công việc phiên dịch và ấn hành đại tạng kinh Việt Nam. Trong thời gian ngắn, Viện đã phát hành được hai tập Trường A Hàm chữ Hán và Trường Bộ Kinh chữ Pali.

Bên cạnh các hoạt động kể trên, hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng không kém phần quan trọng. Từ xưa đến nay, để hộ quốc an dân, Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ từ chối thực hiện nghĩa vụ đối với đất nước. Trên tinh thần này, ba vị Hòa thượng Minh Châu, Thiện Siêu và Kim Cương Tử đã đắc cử đại biểu Quốc Hội khóa 7, 8, 9. Đặc biệt khóa 9, Giáo hội chúng ta có thêm một đại biểu người Việt gốc Khờ me là Hòa thượng Dương Nhơn.

Khắp cả nước, những tỉnh, thành phố có Tăng Ni, Phật tử, đều có hàng giáo phẩm Tăng Ni và cư sĩ Phật tử đắc cử đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp thành phố, quận, huyện, phường, xã.

Về công tác Mặt trận Tổ quốc, Hòa thượng Đức Nhuận, Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Thiện Hào được mời tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Riêng Hòa thượng Trí Tịnh được bầu vào Chủ tịch đoàn. Trong cơ cấu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã, nơi nào có giới Phật giáo đều có đại diện tham gia.

Các đại diện Phật giáo từ trung ương đến địa phương đã tham gia vào các cơ quan quyền lực dân cử và khối đoàn kết Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sự kiện này thể hiện tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo Việt Nam trong cuộc sống của dân tộc ngày nay. Đồng thời nói lên tiếng nói của Phật giáo giúp cho chính quyền hiểu biết hơn nữa về truyền thống ích nước lợi dân của Phật giáo chúng ta.

Đối với công tác từ thiện xã hội, Tăng Ni Phật tử đã thể hiện tinh thần từ bi cứu khổ độ sinh của đạo Phật qua nhiều công tác đáng kể. Hầu hết những ngày lễ lớn trong năm như Tết Nguyên đán, lễ Phật đản, lễ Vu Lan, ngày Thương binh Liệt sĩ, v.v… giới Phật giáo đều tổ chức thăm viếng, tặng quà tại các quân y viện, bệnh viện, nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật, hoặc cứu trợ bão lụt, hỏa hoạn, v.v… Tổng số tiền ủy lạo lên đến hàng tỷ đồng.

Ngoài ra, Tăng Ni, Phật tử cũng hưởng ứng phong trào xây dựng đất nước, đóng góp phần làm tốt đạo đẹp đời. Đó là các hoạt động cụ thể như mua công trái, xây dựng thủy điện Trị An, nhà tình nghĩa, các công trình tại Nghệ Tĩnh kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chủ tịch, ủng hộ tuyến đầu Tổ quốc, bảo trợ thiếu niên nhi đồng, v.v… Số tiền đóng góp cũng đến hàng trăm triệu đồng.

Đặc biệt chùa Khánh Vân Nam Viện thuộc quận 11 đã ủng hộ xây dựng một cây cầu trên tuyến đường Nhà Bè – Duyên Hải với kinh phí 15 triệu đồng. Địa phương đã đặt tên cầu là Khánh Vân để kỷ niệm công đức của chùa.

Năm 1991-1992, Báo Giác Ngộ đã cấp học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo, trên 300 triệu đồng và đang xúc tiến việc này trong niên học mới.

Chính nhờ vào những hoạt động thành công kể trên, trong nhiều lãnh vực của Giáo hội, mà gần đây một số cơ sở tự viện bị chiếm dụng đã được chính quyền duyệt xét trả lại. Thí dụ điển hình như toàn bộ cơ sở của chùa Kim Liên với số phòng ốc cho 120 Ni sinh tu học đã được chính quyền giao trả cho chùa.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, còn có một số vấn đề tồn đọng mà chúng ta cần khắc phục. Trước hết, tệ nạn mà mọi người nhìn thấy trước mắt hằng ngày vẫn còn tiếp diễn. Đó là nạn khất thực phi thời, phi pháp. Một số tu sĩ biến chất sống ngoài khuôn khổ Giáo hội, hoặc một số người không phải là tu sĩ nhưng mượn áo tu sĩ. Họ đã lợi dụng hình thức trì bình khất thực như một nghề để sống. Họ gây ra nhiều tệ nạn tai tiếng trong thành phố, làm hoen ố Phật giáo, khiến cho Phật tử thuần thành cảm thấy khó chịu.

Ngoài ra, vấn đề duyệt xét trao trả cơ sở cho Giáo hội chưa được thực hiện trọn vẹn. Một số cơ sở Phật giáo được các cấp chính quyền mượn, hay chiếm dụng bất hợp pháp, cần được Giáo hội tranh thủ xin hoàn trả, để chúng ta có đầy đủ phương tiện hoằng dương Phật pháp.

Tuy nhiên, phần tồn tại quan trọng nhất cần giải quyết chính là vấn đề sửa đổi Hiến chương và Nội quy hoạt động của các Ban. Thật vậy, vấn đề sinh hoạt của các Ban còn bị hạn chế nhiều mặt, bị trì trệ; vì phải chịu sự ràng buộc của Hiến chương và Nội quy không còn phù hợp với sinh hoạt thực tiễn hiện nay. Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập riêng trong bài kế tiếp. Chúng tôi mong rằng trong Đại hội kỳ III, các đại biểu sẽ đóng góp nhiều ý kiến về tu chỉnh Hiến chương và Nội quy các Ban. Có như vậy, mới mở rộng tầm hoạt động của Giáo hội và làm cho Phật giáo Việt Nam phát triển kịp với đà tiến hóa của xã hội.

Tóm lại, nhìn chung hơn mười năm qua là một bước trưởng thành khá nhanh chóng trong nhận thức và hành động của Tăng Ni, Phật tử. Đồng thời đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc tinh thần thống nhất đoàn kết, cùng nhau thực hiện truyền thống tốt đạo đẹp đời.

Những thành quả mà Giáo hội chúng ta đã đạt được khẳng định rằng chủ trương và đường hướng hoạt động của Giáo hội thật sự đúng đắn. Vì vậy, những hoạt động đạo pháp cũng đã góp phần xây dựng xã hội, mang lại những kết quả tốt đẹp đáng quý.

Chúng tôi kỳ vọng rằng trong tương lai, với bối cảnh nhiều thuận lợi cho hoạt động của Giáo hội, cũng như dựa trên nền tảng tốt đẹp mà chúng ta đã tạo dựng được, Đại hội đại biểu kỳ 3 Giáo hội Phật giáo Việt Nam chắc chắn sẽ vạch ra được chương trình phát triển mới cho Phật giáo Việt Nam. Từ đó, phục vụ hữu hiệu hơn nữa cho đạo pháp và dân tộc; nâng cao vị trí của Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc và trong cộng đồng quốc tế.

^ Back to Top