Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Sách, tài liệu, ấn phẩm xuất bản / Sách Nghiên Cứu

YẾT-MA YẾU CHỈ

YẾT-MA YẾU CHỈ

BẢN CHẤT CỦA CƯƠNG GIỚI

TIẾT 2

BẢN CHẤT CỦA CƯƠNG GIỚI

Như đã định nghĩa ở trên, cương giới là một khoảng đất lớn hay nhỏ tùy trường hợp, được bao quanh bởi các đường ranh mà tiếng Phạn gọi là sĩma. Theo định nghĩa ấy thì bản chất của cương giới là vùng đất mà con người có thể sống sinh hoạt trên đó.

Cương giới được phân biệt thành hai loại khác nhau, là cương giới tự       nhiên[1] và cương      giới    ấn            định.[2]                Tất   cả  mọi    Tăng    sự

nghĩa là tất cả mọi thứ yết-ma, đều được cử hành trong phạm vi của hai cương giới đó. Nếu tại trú xứ, tức tại các chùa, các Tăng-già lam, thì Tăng sự phải được thực hiện trong phạm vi của cương giới ấn định tức tác pháp giới. Trong trường hợp xuất hành, nghĩa là một nhóm tỳ-kheo với số lượng tối thiểu từ 4 người trở lên đang đi chung với nhau, giữa đường có sự việc xảy ra cần phải được giải quyết tập thể, thì Tăng sự có thể được thực hiện trong phạm vi của cương giới tự nhiên.

  1. CƯƠNG GIỚI TỰ NHIÊN

Cương giới tự nhiên hay tự nhiên giới, là những vùng đất có đường ranh tự nhiên không do sự ấn định qua thủ tục nghị quyết hay yết-ma. Có bốn loại cương giới tự nhiên:

  1. Tụ lạc giới

Tụ lạc,[3] chỉ tất cả những nơi có nhà của dân chúng ở, gồm xóm làng, thị trấn v.v... Cương giới tụ lạc có hai hình thái khác nhau. Thứ nhất, cương giới có đường ranh rõ ràng, khiến có thể phân biệt được phạm vi bên trong và bên ngoài của tụ lạc. Thứ hai, tụ lạc không có đường ranh rõ ràng, tức những nơi mà nhà cửa của dân cư liên tiếp nhau, khiến không thể phân biệt được phạm vi của tụ lạc này chạy dài đến đâu và từ đâu trở đi thì thuộc về phạm vi của tụ lạc khác. Trường hợp này, phạm vi được qui định là rộng 21,5 khuỷu tay.[4]

  1. A-lan-nhã giới

A-lan-nhã, tiếng Phạn là aranya, Hán dịch là vô sự xứ hay không nhàn,8 chỉ các khu rừng vắng hay những nơi không có dân cư. Cương giới a-lan-nhã cũng có hai, là nơi nguy hiểm vì có các loại thú dữ, và nơi không nguy hiểm tức không có thú dữ. Tại những nơi a-lan-nhã không nguy hiểm thì cương giới được qui định là rộng một câu-lô-xá,9 ước tính theo khoảng cách mà tiếng kêu có thể nghe được. Trong vòng cương giới tự nhiên được qui định đó phải là không có vị Tăng nào hay chùa nào (chùa có Tăng). Cương giới a-lan-nhã có sự nguy hiểm được qui định trong vòng 7 bàn-đà.10

  1. Đạo hành giới

Đạo hành, tức là cương giới tự nhiên trong lúc đi đường. Trên con đường dọc ngang 600 bộ có thể làm các yết-ma.11 [5] [6] [7] [8]

  1. Thủy giới

Thủy giới,[9] tức cương giới đường thủy, khi đang đi trên thuyền. Phạm vi được ước tính bằng cách cho một người có sức mạnh nhất lấy nước hay cát tung ra 4 phía, tới chỗ nào thì chỗ đó được coi là đường ranh.

Trong các cương giới tự nhiên kể trên, khi hành Tăng sự để giải quyết một vấn đề gì, các tỳ-kheo đồng hành ngồi đối diện nhau. Trong phạm vi cương giới đang hành sự, không được có tỳ-kheo nào khác ở ngoài nhóm không tham gia để khỏi bị coi là có hai nhóm Tăng trong cùng một phạm vi cương giới, thì hành sự của Tăng mới hợp pháp.

Các cương giới tự nhiên như trên được coi là như pháp cho các hành sự   của     Tăng   mà không     cần                   phải        kết           tiểu giới, nếu

toàn thể tỳ-kheo trong nhóm không có sự chia rẽ, nếu có sự chia rẽ, phải kết tiểu giới để hành Tăng sự, phòng sự cản trở của các tỳ-kheo khác.

  1. CƯƠNG GIỚI ẤN ĐỊNH

Cương giới ấn định,[10] hay nói là tác pháp giới, là cương giới được ấn định bằng thủ tục họp Tăng và các công bố đường ranh với sự chấp thuận tuyệt đối của Tăng. Loại cương giới này thông dụng có hai, là đại giới, tức cương giới lớn như các tự viện, già lam, trú xứ của Tăng; và giới trường tức cương

giới nằm trong phạm vi của đại giới, coi như là hội trường để Tăng tập họp biểu quyết những sự việc tập thể, như truyền giới, thuyết       giới,     tự   tứ.  Trong   trường    hợp    bất     thường         nếu

không thể tập họp trong trú xứ, vì có thể bị cản trở bởi các tỳ- kheo khác, Tăng có thể kết tiểu giới ở ngoài địa phận đại giới hay trong phạm vi các tự nhiên giới mà phạm vi nhỏ nhất có thể tập họp tối thiểu bốn tỳ-kheo để giải quyết những vấn đề không liên hệ số đông các tỳ-kheo khác. Sau khi sự việc xong, tiểu giới này phải được tuyên bố giải giới. Không được không giải giới mà đi.

  1. Đại giới

Bất cứ nơi nào có sự hiện diện của Tăng, nghĩa là có sự sống chung của    tối      thiểu bốn      tỳ-kheo,                 nơi               đó        phải ấn định cương

giới được bao quanh bằng những đường ranh mà toàn thể Tăng đều tuyệt đối chấp thuận, để tất cả cùng sống chung hòa hiệp, cùng chấp hành các nghĩa vụ và cùng thọ hưởng các quyền lợi theo các nguyên tắc dân chủ và bình đẳng. Nói đơn giản, thì đây là cương giới để các tỳ-kheo cùng sống chung[11] và cùng thuyết giới chung.[12]

Phạm vi   của đại  giới  được qui định  tối đa, theo Thập   tụng

luật, là 10 câu lô xá, tức khoảng 18.000m[13] theo cả hai chiều dọc và ngang. Trong phạm vi đó nó bao trùm luôn cả nhà cửa của dân cư. Đó là phạm vi cương giới của Tăng. Về ni, được qui định chỉ trong vòng một câu-lô-xá tức khoảng 1,8 km.[14]

Hiệu lực của sự ấn định cương giới không áp dụng chung cả Tăng lẫn ni. Nghĩa là nếu Tăng muốn thiết lập cương giới của mình thì phải tác pháp riêng để ấn định đường ranh. Ni cũng vậy, tác pháp riêng để tự ấn định đường ranh cho mình. Nhưng cương giới của Tăng và ni có thể ấn định chồng lên nhau mà cương giới của mỗi bên vẫn không mất.[15]

Như đã nói, vấn đề định cương giới có mục đích tập họp tất cả các tỳ-kheo thành một cộng đồng địa phương, cùng sống chung hòa hiệp và cùng thuyết giới, do đó việc ấn định đường ranh là công việc chủ yếu rất quan trọng. Các đường ranh phải được cụ thể bằng những mốc gọi là tiêu tướng. Vì đại giới là trú xứ mà các tỳ-kheo có thể sống chung trong cùng một thời gian dài, do đó các vật được dùng làm tiêu tướng ấn định đường ranh phải có giá trị lâu bền. Những vật không tồn tại lâu như cây chuối, hay những thứ rỗng ruột như tre, không được phép dùng làm tiêu tướng, vì những thứ đó không thể qui định lằn mức đường ranh một cách bền chắc. Sông hay rạch cũng có thể dùng làm tiêu tướng, nhưng phải là sông hay rạch thường xuyên có nước. Nguyên tắc ấn định đường ranh là lằn mức phải cụ thể và chính xác để bất cứ ai và trong bất

 

cứ thời gian nào cũng có thể nhận ra một cách dễ dàng, không tranh cãi được. Những gì thỏa mãn nguyên tắc này đều có thể dùng làm tiêu tướng. Đó là nguyên tắc để bảo đảm tính hòa hiệp nhất trí của Tăng, không để bất cứ yếu tố dù nhỏ nhặt đến đâu có      thể         gây ra tranh  luận    và      dẫn    đến tranh    chấp                 bất   hòa

giữa Tăng.

Đại giới được chia làm hai loại chính: đại giới không có giới trường và đại giới có giới trường. Đại giới không giới trường là trú xứ mà các tỳ-kheo sống nhưng không có những sinh hoạt tập thể định kỳ như thuyết giới, tự tứ. Tức trong trường hợp hai trú xứ Tăng ở gần nhau, mặc dù cương giới riêng biệt, nhưng cả hai bên đều muốn sinh hoạt chung, như thuyết giới chung chẳng hạn, thì chỉ cần một giới trường chung cho cả hai bên là        đủ. Ngoài trường hợp    ấy ra,  bất     cứ      đại     giới    nào            cũng

phải có giới trường bên trong, đây gọi là đại giới có giới trường.

Theo nguyên tắc, hai cương giới không được phép có chung đường ranh cho nên trong trường hợp đại giới có giới trường, mặc dù là giới trường được đặt trong phạm vi của đại giới, nhưng đường ranh của cả hai phải cách nhau tối thiểu 2 khuỷu tay, tức khoảng 1 mét. Như vậy, đại giới không có giới trường chỉ có một lớp đường ranh duy nhất, tức các đường ranh bao quanh bên ngoài (đại giới ngoại tướng). Còn đại giới có giới trường thì có ba lớp đường ranh, một là đường ranh bao quanh bên ngoài       vẫn                đồng       nhất với đại giới không giới  trường nêu

trên. Hai là đường ranh bên trong của đại giới (đại giới nội tướng), nó cách các ranh của giới trường bằng 2 khuỷu tay; đây là giới tướng bên trong của đại giới. Ba là đường ranh bao quanh giới trường có khi gọi là tiểu giới. Như vậy trong một đại giới có     giới  trường    gồm có ba    địa     phận   riêng              biệt.    Địa

phận đại giới là trú xứ của Tăng. Địa phận trống ở giữa phân

49

 

cách các đường ranh bên trong của đại giới với các đường ranh bao quanh giới trường, được coi là cương giới tự nhiên và trong cùng là địa phận của giới trường.

Khi   ấn        định   cương     giới của  đại giới  có       giới    trường         thì các

đường ranh của giới trường được công bố trước; kế đó là công bố các đường ranh bên trong của đại giới, và sau hết là công bố các đường ranh ngoài bìa đại giới. Thủ tục tiến hành việc ấn định các đường ranh này sẽ được nói ở đoạn sau tiết 4. Nói tắt là khi kết thì kết giới trường trước rồi mới kết đại giới sau.

Sau khi ấn định đại giới và sống ở đó một thời gian, nếu Tăng thấy ở đây không thuận tiện, cần di chuyển toàn bộ đi nơi khác, thì đại giới và giới trường phải được tuyên bố, đại giới coi như tự động được giải tỏa.

Các tịnh nhân, sa-di đều có thể sống chung trong đại giới với tỳ-kheo, tuy nghĩa vụ và quyền lợi không đồng, và cũng không được kể là thành viên của cộng đồng sống chung trong trú xứ.

  1. Giới trường

Giới trường19 là một khu đất nằm trong phạm vi của đại giới, được dùng làm hội trường của Tăng. Nó có thể là khu đất trống, hay bên trên khu đất này có cất nhà. Các đường ranh của giới trường cách quãng các đường ranh bên trong của đại giới độ một mét như đã nói.

Nguyên lai, đến ngày thuyết giới định kỳ, tất cả tỳ-kheo trong cùng trú xứ phải tập họp lại một chỗ để thuyết giới. Nhưng vì [16] [17]

nơi thuyết giới   không được ấn định cố  định, sự tập họp trở

thành khó khăn. Do đó Phật khiến các tỳ-kheo kết giới trường làm chỗ cố định để tất cả các tỳ-kheo đều biết chỗ mà tập họp.[18] Mặt khác, ngoài những trường hợp như thuyết giới và tự tứ thì toàn thể tỳ-kheo trong cùng trú xứ phải tập họp một chỗ, song còn có nhiều trường hợp mà sự việc chỉ quan hệ một số tỳ-kheo, như trường hợp truyền giới cụ túc, chỉ cần tập họp 10       tỳ-kheo, hay xuất    tội      Tăng   tàn            chỉ cần        tập họp 20     tỳ-

kheo là đủ túc số. Những công việc không định kỳ như vậy lại là việc xảy ra thường xuyên, mà cứ mỗi lần xảy ra đều phải kết giới và giải giới thì rất là phiền phức. Giới trường khi đã được thiết lập dùng làm phòng họp thường xuyên thì Tăng có thể họp bất cứ lúc nào, là để tránh những phiền phức kết và giải nhiều lần như vậy.

Phạm vi giới của giới trường nhỏ nhất phải dung chứa đủ 21 người,[19] [20] mà khoảng cách sao cho khi người này duỗi cánh tay ra thì đầu ngón giữa chạm vào thân người kế.22 Con số 21 là số tỳ-kheo khi làm yết-ma xuất tội Tăng tàn, trong đó gồm 20 tỳ-kheo mà giới thể còn thanh tịnh và một tỳ-kheo phạm giới được Tăng xuất tội.

Trong một đại giới chỉ được phép thiết lập một giới trường mà thôi. Nếu hai trú xứ Tăng với hai đại giới khác nhau nhưng muốn cùng thuyết giới chung thì có thể có chung một giới trường, đặt ở trú xứ nào cũng được.

Giới trường có thể thay đổi địa điểm trong phạm vi của đại giới. Nhưng nếu hủy bỏ giới trường cũ để sang giới trường mới, Tăng phải làm pháp yết-ma để giải tỏa giới trường cũ và ấn định lại đường ranh của giới trường mới.

Nếu đại   giới và giới  trường được  Tăng làm yết-ma ấn định

các đường ranh chung một lần, thì các đường ranh của giới trường phải được ấn định trước, và khi ấn định Tăng phải ở ngay trong phạm vi của giới trường. Sau đó mới ấn định các đường ranh trong và ngoài bìa của đại giới, và khi làm yết-ma ấn định này thì Tăng phải ở trên đất của đại giới, tức ra ngoài giới trường và ngoài cả phần đất trung gian phân cách đại giới và giới trường.

111. liêu giới

Tiểu giới    là          cương    giới      bất        thường  để      Tăng   làm các         yết-ma

bất thường  trong          trường       hợp       không   thể     họp    tại      giới    trường.

Khi có     sự       việc bất       thường       xảy  ra cho một     nhóm  tỳ-kheo,

không liên hệ đến toàn thể tỳ-kheo trong trú xứ, và nhóm tỳ- kheo này cũng không thể tập họp vào giới trường, vì có thể có sự cản trở của các tỳ-kheo khác khi họ đang làm yết-ma nên họ có thể dẫn nhau ra khỏi đại giới và kết tiểu giới để làm yết- ma. Tiểu giới như vậy là một hình thức giới trường di động và lâm thời. Sau khi xong việc, phải tuyên bố giải tỏa mới được đi. Phạm vi của tiểu giới nhỏ nhất là 4 người ngồi thành một đường thẳng, và nếu 5 người trở lên, thì ngồi thành vòng tròn mà phần lưng của họ được coi là đường ranh của cương giới. Sau khi làm yết-ma kết tiểu giới thì các tỳ-kheo này tạo thành một cộng đồng lâm thời riêng biệt mà những tỳ-kheo nào ở

ngoài phạm vi ấy không được phép can thiệp vào công việc của họ.

Hoặc trong trường hợp xuất hành mà có sự việc xảy ra như gặp ngày bố-tát thuyết giới, tự tứ hay các trường hợp xử trị khác, vì để tránh sự cản trở của các tỳ-kheo khác ngoài nhóm, nên tỳ-kheo tối thiểu 4 người trở lên có thể làm yết-ma kết tiểu giới trong cương giới tự nhiên. Sau khi công việc xong, trước khi tiếp tục lộ trình, các tỳ-kheo này phải làm yết-ma giải tỏa tiểu giới.

  1. Các cương giới biệt xuât

Các cương giới biệt xuất là những cương giới có thể có chung đường ranh     với       đại       giới,    hay ở trong              phạm     vi      của                  đại      giới

nhưng hiệu lực không đồng với các đường ranh này, do đó cần làm yết-ma riêng để ấn định.

Các cương giới biệt xuất này gồm pháp lợi nhị đồng, pháp đồng lợi biệt, pháp biệt lợi đồng, giới không lìa y, giới tịnh trù, giới tịnh khố và khố tàng.

a) giới pháp lợi nhị đồng: Trong trường hợp có hai trú xứ của Tăng ở     gần      nhau,  với       hai       cương giới biệt         lập, nhưng        cả hai

bên đều muốn thống nhất sinh hoạt với nhau tức cùng thuyết giới chung, và cùng thọ hưởng chung các quyền lợi vật chất; nếu bên nào nhận được những lợi dưỡng thì đem chia đều cho cả hai.[21]

Để tránh sự giao thông khó khăn cho cả hai, để cho sự tập họp chung các tỳ-kheo của cả hai trú xứ vào mỗi khi thuyết giới không gặp trở ngại, khoảng cách giữa hai trú xứ không được quá xa, và không được cách nhau bởi những chướng ngại như sông ngòi. Nếu trên các sông ngòi này có cầu, hay có thuyền bè qua lại thuận tiện thì được. Phạm vi của cả hai trú xứ được kể là phạm vi của cương giới bố-tát. Cương giới này rộng tối đa là ba do tuần, tức khoảng 20km[22] là khoảng cách để một người đi từ đầu này đến đầu kia chỉ trong một ngày. Dụng ý của sự ấn định này là để cho một người ở cách giới trường thuyết giới quá xa có thể lên đường đi bộ về địa điểm thuyết giới trước một ngày cho kịp kỳ bố-tát.[23]

Hai trú xứ với hai đại giới riêng biệt, nếu muốn thống nhất thành giới pháp lợi nhị đồng, thì trước hết phải tự làm yết-ma giải đại giới của hai bên; sau đó, toàn thể Tăng của cả hai bên tập họp về một chỗ để làm yết-ma kết đại giới lại để cho Tăng cả hai bên đều biết.

Vì cả hai trú xứ bây giờ có chung một thuyết giới, cho nên trong hai đại giới của hai trú xứ chỉ cần có một giới trường mà thôi, đặt ở bên nào cũng được, tùy theo sự thuận tiện. Bên nào được đặt giới trường thì được xướng giới trước. Xướng các tiêu tướng và làm yết-ma kết giới trường xong rồi, toàn thể Tăng ra khỏi giới trường, đến địa phận của đại giới có giới trường, xướng các tiêu tướng trong của đại giới bên này, kế đó xướng các tiêu tướng ấn định các đường ranh của đại giới bên kia. Trong khi xướng các tiêu tướng của cả hai đại giới, Tăng khỏi phải đi thị sát hiện trường, vì các đường ranh không thay đôi nên tất cả đều đã rõ rồi.

Nói tóm lại, trong giới pháp lợi nhị đồng, Tăng của hai trú xứ vẫn sống trong hai phạm vi đại giới khác nhau, chỉ thống nhất trên mặt sinh hoạt, tức thuyết giới và lợi dưỡng mà thôi. Khi nào sự thống nhất sinh hoạt này không thể duy trì được nữa, thì hai bên hợp lại và tuyên bố giải tán, bên nào trở về vị trí sinh hoạt riêng biệt của bên đó để kết giới.

  1.  Pháp đồng lợi biệt: Khác với giới pháp lợi nhị đồng, ở đây chỉ thống nhất hai trú xứ khác nhau về sự thuyết giới chung, còn phần lợi dưỡng thì bên nào thọ hưởng riêng bên đó. Thủ tục hành sự kết giới đại thể giống như thủ tục kết giới pháp lợi nhị đồng, chỉ đổi khác nội dung trong lời xướng và bạch yết- ma mà thôi.
  2.  Pháp biệt lợi đồng: Hai trú xứ Tăng ở gần nhau, có thể phân chia đồng đều các quyền lợi vật chất cho nhau, nhưng có thể vì lý do bảo trì trú xứ của mình mà không thể tập họp về một chỗ để thuyết giới, thì hai bên có thể họp lại để tuyên bố giới pháp biệt lợi đồng. Thủ tục tiến hành không giống như hai trường hợp trên. Nghĩa là, nếu trước đó hai trú xứ có đại giới riêng và giới trường riêng, thì nay tập họp toàn thể Tăng cả hai bên lại một chỗ, làm yết-ma giải giới; chỉ giải đại giới chứ không giải giới trường. Sau đó kết lại mà không phải xướng giới tướng vì các đường ranh của hai trú xứ vẫn giữ nguyên. Nếu trước đó cả hai trú xứ khác đại giới nhưng đồng thuyết giới và đồng lợi dưỡng, thì cũng hợp toàn thể Tăng của hai bên làm yết-ma giải đại giới, rồi kết lại và cũng không phải           xướng tiêu    tướng  nữa.    Sau      đó,       bên nào           chưa            có         giới

trường thì   Tăng  bên  đó  về  họp  lại và làm    yết-ma  kết  giới

trường để thuyết giới.

  1. Giới không lìa y[24] Theo tất cả các luật bộ, nếy tỳ-kheo lìa y một đêm, phạm xả đọa, y ấy phải được xả trước Tăng.[25] Tỳ- kheo đi đến đâu, ba y phải được mang theo như chim đủ cả hai cánh. Nhưng vì nhiều trường hợp không thể mang luôn theo bên mình, do đó cần phải ấn định cương giới của y. Nếu tỳ-kheo ở ngoài cương giới của y, qua một đêm, thì khi ánh sáng ban mai bắt đầu xuất hiện, y ấy được coi là mất, phải xả trước Tăng.

Phạm vi cương giới của y đồng nhất với phạm vi của đại giới, nhưng khác với đại giới là trừ xóm tức nhà của cư dân và khu quanh xóm.[26] Khu quanh xóm là vùng đất trống kể từ ranh của nhà dân ở ngoài bìa xóm trải rộng đến lằn mức của hòn đá mà một người trung bình đứng từ ranh của nhà này liệng ra. Mặc dù kể cả xóm và vùng quanh xóm đều có thể nằm trong phạm vi của đại giới, nhưng vì cương giới của y đã trừ chúng ra, cho nên khi tỳ-kheo ở lại một đêm trong nhà dân mà y được để lại nhà khác hay bất cứ chỗ nào khác trong vùng quanh xóm, lúc ánh sáng mai xuất hiện thì y ấy bị coi là mất. Trường hợp trái lại cũng vậy.

Sau khi cương giới của y đã được ấn định, nếu có nhà dân nào nằm trong phạm vi trú xứ được dỡ đi, thì chỗ đất trống mới này được coi là thuộc cương giới của y. Trái lại, trên khu đất trống trước thuộc cương giới của y nhưng sau đó được dân cất nhà, cất chòi, hay che rạp, thì chỗ ấy và khu đất quanh chỗ ấy không được kể là giới của y nữa, vì khi làm yết-ma kết giới của y đã ấn định rõ ràng trừ xóm và vùng quanh xóm ra rồi.

Phạm vi cương giới của y cũng có thể trùm cả hai trú xứ của Tăng tức hai đại giới khác nhau, nhưng trong đó vẫn phải trừ xóm và khu quanh xóm ra. Nếu giữa hai đại giới có xóm hay nhà dân thì cũng phải trừ ra vậy. Nếu hai đại giới cách nhau bằng sông hay suối có dòng nước chảy xiết thì không được kết thông làm cương giới của y, vì để tránh trường hợp khi lội qua bị nước cuốn mất y. Nếu ở sông hay suối này mà có cầu hay đò qua lại dễ dàng thì có thể kết thông hai đại giới lại làm cương giới của y.

Cương giới của y phải được kết sau đại giới, vì nó tùy thuộc vào phạm           vi         của      đại       giới.    Khi muốn           giải      tỏa, thì phải                 giải

cương giới của y trước rồi mới giải đại giới. Nhưng nếu đã giải đại giới trước thì khỏi phải giải tỏa cương giới của y, vì đại giới đã mất thì giới của y cũng tùy theo đó mà mất luôn.

e)    Tịnh trù và    tịnh   khố:   Theo qui   chế  của  Phật,  trong  địa

phận Tăng già-lam không được phép đun nấu. Song do trường hợp một tỳ-kheo bị bệnh tiêu chảy, nhờ người trong thành nấu cháo. Nhưng  tối hôm   đó       có duyên  sự        cổng    thành  đóng    sớm,

không ai vào lấy cháo được nên đêm đó tỳ-kheo ấy mệnh chung. Nhân cớ này Phật cho kết tịnh địa trong địa phận Tăng-già lam để tạm thời được đun nấu. Có thể chọn bất cứ khu đất trống nào hay bất cứ phòng nào kết làm tịnh trù.[27]

Mặt khác, khi các tỳ-kheo có đồ ăn hay đồ dùng dư, không có chỗ cất nên để ngoài trời, do đó thường bị người chăn dê hay trộm lấy mất. Phật cho phép chọn một căn phòng kết làm tịnh khố để cất chứa.[28]

Lại nữa, trong nhiều trường hợp tín thí cúng dường y bát mà chưa phân chia cho Tăng kịp. Phật cũng cho phép chọn một căn phòng kết làm tịnh khố để chứa.[29]

Mục đích của các sự kết giới này là để ấn định khu đất hay căn phòng nào dùng làm tịnh địa, tịnh trù hay tịnh khố được coi là   nằm trong          đại  giới   sống          chung của     Tăng   mặc dù trên

thực tế chúng vẫn ở trong đại giới. Nhưng nếu không ấn định như vậy, các tỳ-kheo mang tội đun nấu trong đại giới, chứa đựng đồ ăn cách đêm. Đây là những điều khoản thuộc ba-dật- đề và ni-tát-kỳ ba-dật-đề trong giới bổn của tỳ-kheo.

Có bốn trường hợp được coi là tịnh địa.[30] Thứ nhất được coi là thuộc về đàn việt, tức Tăng-già-lam mà tín thí thiết lập để cúng cho  Tăng nhưng       Tăng chưa   chính      thức   nhận   thì nó vẫn

được coi là còn thuộc về của tín thí chứ không phải là cương giới của Tăng, do đó dù có đun nấu trong đó vẫn không phạm. Thứ hai, hàng rào Tăng-già-lam không trọn, nghĩa là tường hay rào        của     già-lam        hoặc           quá thấp,         hoặc chỗ thấp chỗ cao,

hoặc hoàn toàn không có, khiến sự ra vào dễ dàng, thì cũng không cần    phải kết tịnh địa.    Thứ    ba,                 nơi               đã   qui   định     trước.

Tức là đàn-việt trong khi thiết lập Tăng-già-lam đã qui định một nơi nào đó làm nhà kho hay nhà bếp, thì những chỗ đó cũng không cần phải kết giới. Thứ tư, tịnh địa do làm yết-ma. Tức trừ ba trường hợp trên, nơi nào Tăng muốn chọn làm tịnh trù, tịnh khố và tịnh địa thì phải yết-ma để kết giới.

Theo qui chế của Phật thì nếu không phải là trường hợp có tỳ- kheo bệnh hay không    phải    là                 những       năm  đói         khiến      các     tỳ-

kheo không thể khất thực đầy đủ mà phải tự mình đun nấu thì tuyệt đối không được kết tịnh địa để đun nấu trong một giới vức già-lam. Như vậy, tịnh địa chỉ là phần đất tạm thời được kể không thuộc về địa phận già-lam chứ không phải là thường trực. Nhưng do phong tục và tập quán của nước ta, Tăng gần như hoàn toàn phải tự liệu lý sự ăn uống của mình chứ không thường xuyên nhờ vào khất thực, do đó tịnh địa và tịnh trù gọi chung là nhà bếp, vừa để đun nấu vừa được cất chứa thức ăn, không thể không có. Như vậy, khi một Tăng-già-lam hay tu viện được thiết lập làm trú xứ cho Tăng, công việc đầu tiên của Tăng đương nhiên là phải kết địa giới để ấn định cương giới sống chung, nhưng đồng thời cũng cần phải kết cả tịnh địa, tịnh trù và tịnh khố nữa.

Vì các khu vực này được đặt ra ngoài phạm vi đại giới, cho nên cũng được đặt ra ngoài cương giới của y. Nghĩa là, nếu có tỳ-kheo nào ngủ trong địa phận của đại giới nhưng y được để tại các khu vực kể trên khi ánh sáng mai xuất hiện mà tỳ-kheo ấy còn cách xa y của mình bằng khoảng cách 8 cây,[31] thì y này bị coi là mất, và tỳ-kheo phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề, phải xả y trước Tăng. Thêm nữa, khi kết giới cấm túc an cư, cương giới này bao trùm trọn cả địa phận đại giới nhưng vẫn trừ nhà bếp và nhà kho ra. Nếu tỳ-kheo nào không phải là Tăng sai hay cho phép mà tự ý bước vào các chỗ đó tỳ-kheo ấy được coi là tự ý xuất giới và sự kết hạ bị phá.

Khi làm yết-ma kết giới nhà bếp và nhà kho, Tăng không được ở trong các chỗ ấy, cũng không được đứng bất cứ chỗ nào trong địa phận của đại giới, mà phải ra ngoài đại giới rồi làm yết-ma       vọng                  đến.  Nếu  không         thể ra khỏi  đại  giới, thì

trước phải làm yết-ma giải đại giới, rồi kết giới nhà bếp và nhà kho, sau đó kết lại đại giới.

3.    THỦ TỤC TIẾN HÀNH YẾT MA KẾT GIỚI Dẫn

Dưới đây chỉ nêu một số nghi thức yết-ma và giải giới thông dụng. Nội dung căn bản của các thủ tục tiến hành kết và giải giới đều giống nhau, gồm có việc xướng giới tướng tức ấn định đường ranh, và bạch nhị yết-ma. Do đó, những nghi thức nào không được nêu ra ở đây, khi hành sự có thể phỏng theo các nghi thức được nêu mà làm cũng được.

Nếu muốn cho nghi thức được long trọng với các chi tiết như lễ Tam bảo, tụng sám và hồi hướng, thì tùy theo mà châm chước. Vì   đấy là         những     việc  không  phải    chủ     yếu,    và      cũng

không cần thiết, do đó ở đây không nhắc đến.

Thủ tục tiến hành chung cho tất cả các loại kết giới trên đại thể giống nhau. Nó có thể được chia làm hai giai đoạn: chuẩn bị tác pháp và chính thức tác pháp.

  1. Chuẩn bị tác pháp

Trước hết, chỉ định một tỳ-kheo cố cựu, người hiểu biết rành nhất về        địa hình của  trú      xứ,     làm             người          xướng giới tướng.          Vị

tỳ-kheo cố cựu này có bổn phận kiểm tra lại các tiêu tướng, sao cho sự ấn định tuyệt đối cụ thể và phân minh để không ai có thể mơ hồ về các lằn mức các đường ranh. Sự chọn lựa các vật làm tiêu tướng phải y theo luật định như đã giới thiệu trên.

Khi đến giờ hành sự, đánh kiền chùy tập họp tất cả tỳ-kheo trong trú xứ, không ai được phép vắng mặt bất cứ lý do gì, và không được gởi dục. Thầy tỳ-kheo cố cựu được chỉ định có bổn phận hướng dẫn toàn thể Tăng đi thị sát hiện trường các tiêu tướng và đường ranh. Vị này sau khi Tăng tập họp đông đủ, bước ra đảnh lễ Thượng tọa 1 lễ và bạch:

Hôm nay Tăng kết giới. Kính thỉnh đại Tăng thân hành đi thị sát hiện trường để biết rõ các tiêu tướng và các đường ranh bao quanh cương giới để tiện tác pháp.

Sau khi đi thị sát hiện trường, nghe tỳ-kheo cố cựu giới thiệu chi tiết các tiêu tướng và các đường ranh bao quanh cương giới xong, tất cả tập họp trở lại địa điểm làm yết-ma để chính thức tác pháp. Đây là nói trong trường hợp phạm vi đại giới quá rộng lớn. Nếu phạm vi cương giới nhỏ hơn, Tăng có thể ở tại một chỗ của địa điểm yết-ma mà vẫn có thể theo dõi rõ ràng sự giới thiệu các tiêu tướng của tỳ-kheo cố cựu, thì khỏi phải đi thị sát hiện trường và chính thức cử hành tác pháp.

  1. Chính thức tác pháp

Phần này được tiến hành thứ tự theo ba giai đoạn : tiền phương tiện, xướng giới tướng, và bạch nhị yết-ma.

  1.  Tiền phương tiện: Tất cả các yết-ma được chính thức tác pháp với tiền phương tiện giống nhau, ngoại trừ điểm gởi dục. Tất cả các yết-ma kết giới đều không được phép gởi dục, vì bản thân mỗi tỳ-kheo phải tự chứng kiến các tiêu tướng để hiểu rõ và sau này khỏi tranh cãi.

Tiền phương tiện được tiến hành như sau:

Yết-ma sư hỏi: Tăng đã họp chưa?

Duy na đáp: Tăng đã họp.

Hỏi: Hòa hiệp không?

Đáp: Hòa hiệp.

Hỏi: Người chưa thọ cụ túc đã ra chưa?

Đáp: Đã ra (hoặc đáp: Trong đây không có người chưa thọ cụ túc)

Hỏi: Tăng nay hòa hiệp để làm gì?

Đáp: Yết-ma kết... (tên đối tượng tác pháp).

  1. Xướng giới tướng: Trong phần chuẩn bị tác pháp trên đã

có nói, nếu cương giới rộng lớn, Tăng phải thân hành thị sát. Nếu cương giới nhỏ hơn, thì không cần đi thị sát mà có thể tiến hành ngay tiền phương tiện của phần chính thức tác pháp. Sau đó nghe xướng giới tướng. Khác với trường hợp trước, vì đã đi thị sát hiện trường, nên khi xướng giới tướng, thì tỳ- kheo cố cựu                  đứng          một  chỗ  trước  Tăng  mà  xướng. Trái   lại,

trong trường hợp sau, Tăng khỏi phải đi thị sát, thì tỳ-kheo xướng giới tướng tự thân hành đi đến cạnh các tiêu tướng, đi đến đâu thì giới thiệu đến đó cho Tăng biết rõ.

Khi xướng    tiêu tướng, phải  bắt đầu  từ góc  đông nam  của

cương giới, nếu chính diện của già-lam từ trong nhìn ra. Theo thứ tự, đi từ góc đông nam sang tây nam, trên đường ranh này có những đặc điểm gì, như trồi ra hay sụt vào, đều phải nêu rõ, không được nói mập mờ hay đại khái. Lần lượt thứ tự như vậy cho đến khi trở lại góc đông nam cũ. Như vậy là xong một vòng xướng giới tướng.

c) Bạch nhị yết-ma: các tác pháp kết giới gồm có một lần tác bạch và một lần yết-ma. Phần này do chính Thượng tọa làm hay do một tỳ-kheo tinh thông luật làm yết-ma cũng được.

Trong các tác pháp yết-ma kết giới được nêu dưới đây, phần chuẩn bị tác pháp sẽ không cần phải nhắc lại, vì trên đại thể đều giống nhau; khi hành sự có thể tùy theo loại mà châm chước thêm bớt cho phù hợp. Chỉ khi nào cần thiết mới sẽ nhắc lại. Trong phần chính thức tác pháp cũng sẽ không nhắc lại tiền phương tiện nữa, vì sự vấn đáp hoàn toàn đồng nhất.

 

[1] Hán: tự nhiên giới                   Cf. Tứ phần hành sự sao I, Đại 40, tr. 14b2. Pãli: asammata-sima.

[2] Hán: tác pháp giới #^^. Cf. Tứ phần hành sự sao I, Đại 40, tr.14b6. Pãli: sammata-sima.

[3] Pãlỉ, gãmasĩma; Cf. Mahãvagga II, vn. i. tr. 110: asammatãya bhkkhave sĩmãya attha-pitãya, yam gãmam vã nigamam vã upanissãya viharati, yã tassa vã gãmassa gãmasĩmã nigamassa vã nigamasĩmã, yam tattha samãnasamvãsã ekuposathã, “Khỉ một cương giới chưa được thỏa thuận, chưa được ấn định, thì bất cứ một tụ lạc, một thị trấn mà tỳ-kheo nương vào đó; tụ lạc ấy là cương giới tụ lạc, thị trấn ấy là cương giới thị trấn. Trong phạm vi đó là đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới.”

[4] Ma-ha Tăng kỳ luật 8 (Đại 22, tr.298b13): “Ưu Ba Ly hỏi Phật, ở những nơi mà giới hạn của thành ấp, tụ lạc không thể phân biệt, thì trong khoảng phạm vi nào có thể tác yết-ma, khiến các nhóm Tăng khác trông thấy nhau nhưng yết-ma vẫn thành tựu mà không phạm lỗi biệt chúng? Phật nói: 5 khuỷu là 1 cung, 7 cung là khoảng cách để trồng 1 cây xoài, trong phạm vi 7 cây xoài có thể tác yết-ma.” Hành sự sao I (Đại 40, tr.7a19), trong phạm vi 7 cây tức có 6 khoảng = 21 khuỷu (= 63 bộ). Cf. Pãli, Mahãvagga II, Vn.i. tr.111:       agãmake ce...aranne samantã

sattabbhantarã ayam tattha samãnasamvãsã ekuposathã, “Nếu tỳ-kheo sống ở    nơi         không    phải       là            tụ            lạc,         rừng             vắng, thì trong phạm  vi   bảy

abbhantara là       giới         hạn    đồng        nhất trú    xứ,    đồng     nhất    thuyết            giới.”     Giải

thích của Mahãvagga-tthakathã (Vn.5.v. tr.1050): tattha ekam abbhantaram atthavĩsatihatthappamãsam hoti, ở đây, 1 abbhantara bằng 28 hattha (tay). 1 hattha Pãli tức 1 hasta Skt. = 24 angula.

[5] Skt. aranya (Pãli. aranna); Hán: a-lan-nhã                              nhàn tĩnh xứ

vô sự xứ                     không nhàn ỀM. Cf. Ma-đắc-lặc-già 3 (Đại 23,

tr.580b3): “Giới a-lan-nhã, trong phạm vi 1 câu-lô-xá.” Hành sự sao I (Đại 40, tr.7a23): “Về giới a-lan-nhã, các bộ không nhất định. Phần lớn tính là 1 câu-lô-xá.” Xem cht. 9 dưới. Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.794b9) : “Giới a-bàn-đà-la (Pl. abbhantara) tức là giới a-lan-nhã.” Theo đó     (tr.793b4),           giới a-lan-nhã,    cực  nhỏ,      vuông    vức         bảy         a-bàn-đà-la

(Pãli: abbhantara). 1 a-bàn-đà-la = 28 khủyu.; xem cht. 6 trên.

[6] Hán: câu-lô-xá ^Ẩ^; Skt. kroấa. Có hai cách tính một câu-lô-xá: bằng 4000 khuỷu tức khoảng 1800m, hoặc bằng 8000 khuỷu tức khoảng 3600m. Đây nói theo cách tính thứ nhất.

[7] Bàn-đà ^fê; Skt. abhyantara (Pãli: abbhantara): nội bộ, trung gian. Xem cht. 6 trên.

[8]   Hành sự sao I (Đại 40, tr.7a19), dẫn Tát-bà-đa: “Tỳ-kheo khi du hành,

tùy chỗ    trú       xứ,                   trong phạm                             vi       một         câu-lô-xá là giới         (đạo       hành).” Dẫn

thêm Thập tụng: “600 bộ làm một câu-lô-xá.”

[9] Pãli: udakukkepa-sĩmã; Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.794bl0), trịch thủy giới               Cf. Pãli, Mahãvagga II, Vn.i. 111: nadiyã vã bhikkhave samudde vã jãtassare vã yam majjhimassa purisassa samantã udakukkhepã, ayam tattha samãnasamvãsã ekuposathã ti, “Nơi nào có sông, biển hay ao hồ, trong phạm vi mà một người trung bình hất nước đến; đó là cương giới đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới.”

[10] Hán: tác pháp giới; Pãli: sammantã sĩmã.

[11] Hán: đồng nhất trú xứ                       Pãli: samãnasamvãsa.

[12] Hán: đồng nhất thuyết giới                      Pãli: ekuposathã.

[13] 18000m hoặc 36000m tùy theo cách tính. Xem chú thích 9. Cf. Thập tụng 22, Đại 23, tr.158b7. Cf. Tăng-kỳ luật 8 (Đại 22, tr.295c13), Ngũ phân 18 (Đại 22, tr.124a3) , Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.793a28), rộng nhất, không quá 3 do tuần. Pãli, Mahãvagga II, Cf.Vn.i.tr.106: tiyojanaparamam sĩmam sammannitun ti, kết giới lớn nhất là ba yojana. Skt.= Pl.: yojana, Hán: do-tuần h^, do-diên h^, dũ-thiện-na ^0#. Có nhiều cách tính; hoặc bằng 4 câu-lô-xá, hoặc bằng 8. Huyền Trang, Tây vực ký 2 Du-thiện-na, đoạn đường 1 ngày hành quân của Thánh vương xưa, khoảng 40 dặm. Theo tục Ấn độ, 30 dặm. 1 câu-lô-xá, gần bằng 1 dặm Anh.

[14] Tát-bà-đa Tì-ni Tì-bà-sa 4 (Đại 23, tr.529b2); “Ni kết đại giới, rộng nhất là 1 câu-lô-xá.”

[15] Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.793b3); “Nơi nào tỳ-kheo đã kết giới, nơi ấy đối với tỳ-kheo-ni là phi giới. Tỳ-kheo có thể kết giới chồng lên giới của tỳ-kheo-ni mà giới của tỳ-kheo-ni không mất.”

  1. Ngũ phần 18 (Đại 22, tr.23c2); bố-tát đường                         Tứ phần 35 (Đại

[17] tr.818c2): thuyết giới đường                          Mahãvagga II, Vn. i. tr.106,

uposathãgãra.

[18] Tứ phần 35 (Đại 22, tr.818b23): Các tỳ-kheo hay rằng Phật dạy phải cùng thuyết    giới        tại một  địa          điểm,     nhưng   vì                           chưa              có   địa      điểm     cố định,

mỗi người đợi mỗi nơi, khiến việc tập Tăng rất mệt nhọc. Do đó Phật dạy ấn định giới trường.

[19] Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.793a17)

[20] Thân thủ tương cập                             Đây là cách nhóm hợp các tỳ-kheo tại tiểu giới hay giới trường khi Tăng tác yết-ma, trái với cách này, phạm lỗi biệt chúng.

[21] Tứ phần luật 35 (Đại 22, tr.820a26). Cf. Ngũ phần luật' (Đại 22, tr.124a8); cộng bố-tát cộng đắc thí     Thiện kiến luật 24

(Đại 24, tr.794b4); la-bà-giới HỆ Ặ^. Pãli, Mahãvagga-Atthakathã, v. 1136; lãbhasĩmã.

[22]  Có ba cách tính      về          một          do                  tuần:       hoặc bằng     khoảng        4              dặm Anh             tức

khoảng 6500m, hoặc khoảng 5 dặm Anh tức khoảng 8000m, hoặc khoảng 9 dặm Anh tức khoảng 14500m. Đây tính theo cách thứ nhất.

[23]  Tứ phân hành sự sao I, Đại 40, tr. 14b12.

[24]  Ngũ    phần  luật    18, Đại    22, tr.124a27;      Tứ  phần     luật   35, Đại     22,

tr.819c25: bất thất y giới ^^ỳ&; Pãli: avippavãsasĩmã, Mahãvagga , Vin.i. tr. 106.

[25] Ngũ phần luât 4, Đại 22, tr.23c10, xả đọa, điều 2. Tứ phần luật 6, Đại 22, tr.603a1: ni-tát-kỳ điều 2. Thập tụng luật 5, Đại 23, tr.31b10: ni-tát- kỳ điều 2. Pãli, Pãrãjika, Vin.iii. tr.197 ticĩvarena vippavaseyya... nissaggiyam pãcittiyam.

[26]  Tứ phần luật 35, Đại 22, tr.820a6. Tì-ni tì-bà-sa 4, Đại 23, tr.529b28.

[27]  Tứ phần luật 43, “Dược kiền độ” Đại 22, tr.874.c. Thiện kiến luật 27, Đại 24, tr.975b5: tịnh ốc              . Cf. Mahãvagga III, Vn. i. tr.138:

kappiyakuti.

[28] Ngũ phần luật 22, Đại 22, tr.150aổ. Tứ phần luật 43, Đại 22, tr.876a10: tịnh địa. Cf. Mahãvagga vi. Vin. i. tr.237: kappiyabhũmi.

[29]  Pâli: bandãgãram, Cf Mahãvagga viii., Vin.i. tr.284.

[30]  Tứ phần luật 43, Đại 22, tr.874c15. Mahãvagga VI, Vn.1. 240: catasso kappiyabhũmiyo - ussavãnantikam gonisãdikam gahapatim samumtim. Bản dịch Anh Book of the Discipline iv. tr.328), chỉ có 3, trừ sammutim mà Hán dịch là Tăng yết-ma.

[31]  Tứ phần 6, Đại 22, tr.604a21: bát thọ trung gian, và giải thích, một trung gian, tức khoảng cách giữa 2 cây, là 7 cung. Theo cung pháp của nước Già-ma-lê, 1 cung = 7 khuỷu. 1 khuỷu (nhất chẩu). Skt. 1 hasta = 24 angula = 18 inches, tức khoảng 44cm10. Như vậy, khoảng cách được coi là lìa y để mất y là 21, 61 m. Ngũ phần luật 4, Đại 22, tr.24b11, nếu ngồi

kết già    một chỗ,                 khoảng  cách để              mất y là cách               mặt               ngoài 7  thước;    nếu

đang đi đường, cách thân mình ngoài 7 cung.

 

^ Back to Top