Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Thiền Học

Vai trò của Thiền sư Khuông Việt trong truyền thừa học phái Vô Ngôn Thông

Vai trò của Thiền sư Khuông Việt trong truyền thừa học phái Vô Ngôn Thông

Trong đêm dài của kỷ nguyên lệ thuộc vào sự đô hộ của vương triều phong kiến phương Bắc, Phật giáo Nam Việt ở thời kỳ đầu khảong thế kỷ II, III sau Công Nguyên tựu trung đã tiếp thu hai luồng truyền giáo: một là từ các Thiền sư từ Ấn Độ, hai là từ các Thiền sư từ Trung Hoa du nhập.

Vai trò của Thiền sư Khuông Việt trong truyền thừa học phái Vô Ngôn Thông

 

Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam cùng với quá trình phổ biến chữ Hán đã hoà nhập với tín ngưỡng và tập quán tâm linh của người Việt bản địa để hình thành nên một số các học phái Phật giáo phù hợp với truyền thống và tập tục của người dân Nam Việt. Các học phái Phật giáo đều có những người kế thừa xuất sắc tôn chỉ môn phái, nhưng trong đó phải kể đến học phái Vô Ngôn Thông với người kế thừa đời thứ 4 là Thiền sư Khuông Việt (933-1011), Người đã đóng góp rất nhiều công lao về hoằng pháp dưới thời Đinh và Tiền Lê, đồng thời ông cũng là nhân vật kiệt xuất của dân tộc trong buổi đầu dựng nên một nhà nước độc lập thoát khỏi sự đô hộ của vương triều phong kiến phương Bắc.

Thiền sư Khuông Việt là người ở hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc (nay thuộc huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên). Ông họ Ngô, tên Chân Lưu, là hậu duệ của Ngô Thuận Đế, dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa. Thuở nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng học đến chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc – Hà Nội) thụ giới của túc với Thiền sư Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển Phật giáo, hiểu sâu yếu lĩnh của Thiền học. Nguyên trước đây Thiền sư Vân Phong là đệ tử xuất sắc của Thiền sư Thiện Hội ở Định Thiền tôn Siêu Loại (nay thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Thiền sư Khuông Việt gia nhập cương kỷ tăng giới ở chùa Khai Quốc, sách Tây Hồ Chí chép: “Chùa Khai Quốc ở tại bờ sông Nhị Hà, mạn phía bắc của hồ Tây thường gọi là bến Yên Phụ mé ngoài đê. Nguyên ngày trước Nam Đế nhà tiền Lý nhân nền cũ của chùa An TRì dưới triều Hồng Bàng mà dựng nền, bởi vậy ngôi chùa mới bắt đầu có tên là Khai Quốc Tự. Sau một thời gian chùa bị hư hoại, có vị danh tăng dưới triều nhà Ngô là Thiền sư Nguyễn Vân Phong, người quê gốc ở Từ Liêm tu bổ lại. Thời gian đầu dưới triều Đinh và tiền Lê, Thiền sư Khuông Việt đã thụ học và gảing dạy tại đó. Về sau nhà Lý dời đô về Thăng Long cũng đã cho sửa sang lại chùa Khai Quốc, rất nhiều danh tăng nổi tiếng đã từng thụ học ở nơi đây như Thiền sư Lý Thảo Đường, Ngô Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không…”. Vốn là con nàh dòng dõi, với hoàn cảnh thuận lợi, Thiền sư Khuông Việt sẽ trở thành người tham gia vào các hoạt động chính trị. Tuy nhiên, thiện duyên đã đưa Thiền sư Khuông Việt đến chốn cửa Thiền và tư tưởng của Thiền môn cùng với gánh nghiệp giang sơn đã trở thành cảnh giới đời thực của ông. Những biến động chính trị xãy ra từ năm ông 11 tuổi, khi ông đến thụ học ở chùa Khai Quốc và Ngô Quyền mất đi và Dương tam Kha tháon nghịch đã ảnh hưởng rất lớn đối với con đường sự nghiệp của ông sau này.

Dưới thời Đinh và tiền Lê có ba hệ phái Phật giáo chính: một là học phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, hai là học phái Thiền Vô Ngôn Thông và ba là học phái Thiền Thảo Đường. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi do thiền sư người miền Nam Ấn Độ tên là Tỳ Ni Đa Lưu Chi sáng lập ra. Năm 574 Ngài đi hoằng pháp đến kinh đô Tràng An – Trung Hoa. Lúc này, Phật giáo ở Trung Hoa đang gặp khủng hoảng nên Ngàu đã đi tới đất Nghiệp (tỉnh Hồ Nam), tại đó Ngài gặp Tam tổ Tăng Xán. Sau khi được truyền tâm ấn, Ngài bái từ đệ Tam tổ Tăng Xán rồi đi về phương Nam để tiếp độ chúng sinh. Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Quảng Châu tạm trú ở chùa Chú Chỉ và biên dịch bộ kinh “Tượng Đầu báo nghiệp” từ chữ Phạn sang chữ Hán. Năm Canh Tý (580) Ngài đặt chân lên đất Giao Châu và trụ trì ở chùa Pháp Vân để hoằng pháp. Tư tưởng của học phái Tỳ NI Đa Lưu Chi tức là truyền thụ về tâm ấn của đệ Tam tổ Tăng Xán “bản thể Phật tính tự nhiên bất diệt, bản thể đó cùng đồng nhất một cội rễ với bản thể của chúng sinh”. Trước khi viên tịch Ngài đã truyền tâm ấn cho Thiền sư Pháp Hiền. Trước và sau cả thảy học phái này có 19 đời đệ tử nối tiếp từ năm 580 đến năm 1216 với rất nhiều dnah tăng nổi tiếng về sự lỗi lạc như: Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Khánh Hỷ, Viên Thông….

Đời vua Đức Tông nhà Đường (780-836), quan tể tướng lúc bấy giờ là Quyền Đức Dư có viết bài tựa trong cuốn Truyền Pháp Lục một đoạn sau: “sau khi tổ Tào Khê viên tịch, Phật giáo – Thiền tông khá thịnh hành nên nơi nào cũng thấy xuất hiện chi phái của nó. Tại đất Giao Châu thì có Thiền sư Vô Ngôn Thông là người đã đem tôn chỉ của Thei62n sư bách Trượng ra khai ngộ cho dânc húng. Vô Ngôn Thông chính là học pháo Phật giáo thứ hai được truyền nối qua thời Đinh và tiền Lê. Sơ tổ là người họ Trịnh quê gốc ở Quảng Châu, lúc nhỏ Ngài rất mộ đạo không màng đến tài sản tư gia. Sau đó Ngài xuất gia tu học ở chùa Song Lâm, đất Vũ Châu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc). Tính Ngài điềm đạm, ít nói nhưng sự lý thì thông hiểu. Bởi vậy người ta mới đặt danh hiệu cho Ngài là Vô Ngôn Thông. Một hôm, khi Ngài đang lễ Phật thì gặp một vị Thiền sư đến điểm hoá cho Ngài rồi đưa đi tìm tổ sư Mã Tổ tham học. Khi vừa đặt chân đến Giang Tây thì tổ sư Mã Tổ đã viên tịch, hai người bèn đến yết kiến Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (đệ tử của Mã Tổ) xin học. Bấy giờ có một vị tăng trong lớp học mới hỏi Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải rằng: “thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa?”. Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải dạy rằng: “tâm địa được thông, tuệ trí tự sáng”. Nghe xong, Vô Ngôn Thông tự nhiên ngộ đạo rồi Ngài trở về Quảng Châu trụ trì ở chùa An Hoà. Năm Canh Tý (820 theo Công lịch) niên hiệu Nguyên Hoà thứ 15 đời nhà Đường, Ngài đã đến đất Giao Châu hoằng pháp tại chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay). Tại đây, cả ngày Ngài ngồi quay mặt vào vách để thei62n định suốt mấy năm mà không ai biết, sau có một thiền sư tên là Cảm Thành biết Ngài là bậc cao tăng đắc đạo trong hệ phái Thiền tông mới đem lòng kính trọng và thờ làm thầy. Thiền phái Vô Ngôn Thông truyền nối từ năm 820 đến năm 1221 cả tahỷ có 40 đời, trong đó có các đệ tử nổi tiếng như Thiền sư Khuông Việt, đời thứ 4 được ban chức Khuông Việt đại sư, thiền sư Viên Chiếu, đời thứ 7 được ban tặng danh hiệ Cao Toạ pháp sư. Thiền phái Vô Ngôn Thông cũng chính là Thiền phái chủ chốt của Phật giáo Nam Việt và đặt nền tảngc ho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển rực rỡ ở triều Trần sau này.

Thiền phái Thảo Đường chính là tên một thiền sư của phái Thiền vân Môn đời Bắc Tống sáng lập. Thiền phái Thảo Đường còn được gọi là Thiền Tuyết Đậu Minh Giác phái, nguyên do là trước đây thiền sư Thảo Đường cũng là đệ tử của Hoà thượng Tuey61t Đậu Trọng Hhiển. Thiền sư Thảo Đường cũng từng đi đến Chiêm Thành hoằng pháp, sau ông ra kinh thành Thăng Long, Ông trụ trì chàu Khai Quốc và truyền dạy cho các đệ tử về quy tắc môn phái, lấy tư tưởng chủ đạo Thiền và Tịnh thống nhất, tức là trong quá trình tu hành lấy việc tu thiền kết hợp với niệm phật tướng theo Tịnh Độ cùng một lúc. Thiền phái Thảo Đường truyền nối từ năm 1009 đến 1205, cả thảy có 5 đời với ba vị vua và hai vị thái phó.

Như vậy tư tưởng chính của các học phái Vô Ngôn Thông, một học phái mà thiền sư Khuông Việt suốt đời phấn đấu trong sự nghiệp tu hành và hoằng pháp của mình. Trước khi viên tịch, Thiền sư Vô Ngôn Thông đã giảng tôn chỉ môn phái cho đệ tử chân truyền của mình là Hoà Thượng Cảnh Thành như sau: “Khi xưa đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn nên Ngài xuất hiện trong đời, khi pháp duyên đã sắp viên mãn, Ngài đã đem chính pháp nhãn tạng tức chân tâm vi diệu, thực tướng và vô tướng, tam muội pháp môn và y bát truyền lại cho đức Ma Ha Ca Diếp là đệ tử của Ngài. Sau khi nhận được pháp ấn từ đức Thế Tôn thì Ma Ha Ca Diếp chính là vị tổ thứ nhất của Thiền tông. Từ vị tổ Ma Ha Ca Diếp truyền chân chỉ pháp ấn đến đời Bồ Đề Đạt Ma là đời thứ 28 ở cõi Tây Thiên. Sau đó Bồ Đề Đạt Ma vượt biển đến Trung Hoa và truyền pháp ấn cho Tổ Tăng Xán rồi kế tiếp đó là sự truyền thừa cho Lục Tổ Huệ Năng. Từ tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đến lục tổ Huệ Năng khi truyền trao chính pháp thì đều lấy y bát của đức Thế tôn làm minh chứng. Ban đầu chân truyền về Phật pháp phải có vật chứng thì các đệ tử mới tin phục, về sau Phật pháp truyền bá đã rộng mà y bát là một hiện tượng dễ sinh ra tranh chấp nên Lục tổ Huệ Năng không truyền y bát nữa mà chỉ truyền tâm pháp mà thôi. Người được truyền cho Mã Tổ, Mã Tổ truyền lại cho Thiền sư Bách Trượng. Thời bấy giờ ở Bắc Phương, Phật pháp đã thịnh hành nên có rất nhiều người hiểu giáo lý của Đại Thừa. Bởi vậy ta mới xuống phương Nam tìm người để truyền lại y pháp. May gặp ngươi ở đây cũng là do thiện duyên định sẵn, vậy ngươi hãy tiếp nhận chân chỉ môn phái qua bài kệ này:

"Hết thảy các pháp, đều tự tâm sinh

Tâm không chỗ sinh, Pháp không chỗ trụ

Tâm địa sở đạt, mọi nơi mọi chốn

Không gặp thiện căn, chớ vội vọng truyền.”

Thực sự chânc hỉ của học phái Vô Ngôn Thông cũng chính là lối thiền “quan bích” một pháp tu luyện thiền tự cởi hết thảy ràng buộc để tìm về chân tâm mà khi xưa đức Bồ Đề Đạt Ma đã truyền lại và nó cũng đã truyền nối được cho rất nhiều đệ tử xuất sắc ở đất Giao Châu.

Theo Thiền Uyển Tập Anh, ta có thể tạm dịch hệ thống hoá học phái Vô Ngôn Thông tại Giao Châu từ khi khởi đầu đến hết thời Đinh và tiền Lê lần lượt như sau:

1- Sơ tổ: thiền sư Vô Ngôn Thông (759-826)

2- Thế hệ thứ nhất: thiền sư Cảm Thành (?-860)

3- Thế hệ thứ hai: thiền sư Thiện Hội (?-900)

4- Thế hệ thứ ba: thiền sư Vân Phong (?-956)

5- Thế hệ thứ tư: thiền sư Khuông Việt (933-1011)

6- Thế hệ thứ năm: thiền sư Đa Bảo.

Từ những biệt truyền ngoài giáo huấn, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm để “minh tâm thấy tính, thấy tính tàhnh Phật” của phép Thiền “quan bích” đã được các đệ tử hệ phái Vô Ngôn Thông chú thích và truyền nối qua các đời. Cụ thể khi gảing cho Thiền sư Cảm Thành trước khi viên tịch, thiền sư Vô Ngôn Thông đã nhắn gửi tôn chỉ đó qua bài kệ:

"Các nơi đồn đãi, dối tự rao truyền

Rằng thuỷ tổ ta, gốc tự Tây Thiên

Truyền pháp nhãn tạng, coi đấy là Thiền

Một hoa năm lá, hạt giống liên miên

Ngầm ẩn mật ngữ, muôn ngàn có duyên

Tam tông đều gọi, Thiền – Tịnh thản nhiên

Tây Thiên cõi kia, Tây Thiên cõi này

Nhật – Nguyệt xưa nay, vẫn núi sông này

Tự buộc thành vướng, Phật tổ thành oan

Sai chỉ một ly, tự đi ngàn dặm

Tự ngươi quan sát, kẻo lầm đời sau.

Dẫu tìm tông phái, ta họ Vô Ngôn”.

Khi Thiền sư Cảm Thành luận gảing tư tưởng chính của lời kệ chú này cho Thiền sư Thiện Hội thì vấn đề chính của môn phái được toát lên ở đây là “tự tâm tức Phật, tâm Phật ở mọi nơi mọi chốn”. Sau khi tiếp nhận ý đó, Thiền sư Thiện Hội đã truyền lại tôn chỉ môn phái cho Thiền sư Vân Phong thông qua đoạn đối thoại:

- Sinh tử việc lớn cần giải quyết ngay.

Sư vân Phong hỏi:

- Sinh tử bất kỳ, làm sao thoát được.

Thiền sư Thiện Hội đáp:

- Hãy nắm lấy chỗ vô sinh tử mà tránh.

Sư Vân Phong hỏi:

- Thế nào là vô sinh tử.

Thiền sư Thiện Hội đáp:

- Tự ngươi tìm nó trong sinh tử.

Phát triển tư tưởng môn phái thông qua cặp phạm trù về sinh tử, thiền sư Khuông Việt đã giảng lại cho thiền sư Đa Bảo:

“Thuỷ chung vô tật, diệu hư không

Hiểu được chân hư, thể tự đồng”.

Qua đây ta có thể hiểu được tôn chỉ môn phái Vô Ngôn Thông qua kệ chú của thiền sư Khuông Việt như sau: Thỉ tức là sự khởi đầu hay là sự sinh, Chung tức là kết thúc tức là sự tử. Bản chất của sinh tử vốn là hư không cho nên nếu bàn về nó thì cũng giống như việc bàn về chuyện “lông rùa, sừng thỏ”. Chân gốc của tâm là diệu hư không và chân tâm cũng chính al2 Phật. Như vậy học phái Vô Ngôn Thông đã có sự truyền nối về tôn chỉ này được diễn giải ở các dạng khác nhau nhưng bản chất đồng quy về một mối. Những trân chỉ được truyền nối của học phái Vô Ngôn Thông xuất phát từ thiền “quan bích” của đức Bồ Đề Đạt Ma cũng còn được gọi là dòng thiền “nhị nhập tứ hành”. Nhị nhập tức là nhập vào lý luận và nhập vào thực tiễn bao gồm tứ hành đó là: an nhẫn hành, tuỳ duyên hành, vô cấu hành và tuỳ pháp hành. Vậy tư tưởng “nhị nhập tứ hành” đó đã được thiền sư Khuông Việt vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của mình như thế nào?

Trên con đường hiện thực hoá các giá trị thiền phái Vô Ngôn Thông dưới triều Đinh và tiền Lê, thiền sư Khuông Việt thực sự đã dung hội được các triết lý của Thiền tông nói chung và hệ phái Vô Ngôn Thông nói riêng vào những tín ngưỡng tâm linh bản địa của dân tộc Việt trên mãnh đất Nam Việt. Những triết lý nhà Phật là từ bi, bác ái đã tạo ra những cơ hội hoà bình tạm thời và mang tính quyết định trong chính sách đối ngoại của một nhà nước vừa mới tàhnh lập trước sự uy hiếp của vương triều nhà Tống. Trên lĩnh vực tư tưởng, với tư cách là Tăng Thống, thiền sư Khuông Việt đã tụ hội được các lực lượng bên trong và bên ngoài các tín ngưỡng. Bằng chứng là ở giai đoạn này không hề xuất hiện cá cuộc xung đột về tư tưởng giữa Đạo giáo và Phật giáo, giữa Nho giáo và Phật giáo và các hệ phái bên trong Phật giáo. Thực sự khi Nho giáo ở giai đoạn này chưa thể đáp ứng được các nhu cầu hoạch địng đường hướng trị quốc an bang thì Phật giáo đã đứng ra làm cây cột chống cho vương triều lúc bấy giờ.

Thiền sư Khuông Việt chì đóng vai trò tham vấn về Thiền học cho triều đình, giúp vua hoạch định kế sách giúp nước an dân, mà ông còn là một người thầy lớn của thiền môn. Những tinh hao trong tôn chỉ yếu lĩnh của Thiền phái Vô Ngôn Thông như “nhập lý và nhập hành thốnh nhất, quan bích theo chuẩn tắc thiền của Đại Thừa, song tu cả Định và Tuệ để chứng được trung quán Bát Nhã, rồi từ đó kết được pháp ấn của Đại Thừa” đã được thiền sư Khuông Việt truyền lại cho thế hệ sau. Cụ thể sách Thiền Uyền Tập Anh đã chép rằng: “thiền sư Đa bảo sau khi học được pháp ấn từ Thiền Sư Khuông Việt, ông đã có tới hàng trăm đệ tử, trong số đó có nhiều người được vương triều nhà Lý hết mực trọng dụng như Thiền sư Thiền Lão, trưỡng lão Định Hương… để có sự phát triển Phật giáo rực rỡ ở đời nhà Lý. Công cuộc hoằng pháp Phật giáo trên mảnh đất Giao Châu từ các đời trước đến nay đã chính thức được thực hiện từ nơi vương triều đến nơi thôn dã. Bằng chứng là các tín đồ Phật tử đâu chỉ riêng vùng kinh đô Hoa Lư – Ninh Bình mà nó đã được mở rộng rất lớn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó đặc biệt phải kể đến các trung tâm Phật giáo rất lớn ở trấn Kinh Bắc nay thuộc về Bắc Ninh. Quy mô hoằng pháp của các hệ phái Phật giáo được thể hiện bằng sự phát triển hệ thống đình chùa, xây dựng hơn 88 điểm với khoảng 20 trung tâm Phật giáo lớn. Ở giai đoạn này triều đình cũng đã cử người sang Trung Quốc thỉnh Đại Tạng Kinh, tạo các điều kiện giao lưu học hỏi giữa Phật giáo Nam Việt và Phật giáo các địa phương khác của Trung Quốc. Thực sự những thế hệ Thiền tăng kể từ sau thế hệ Thiềns ư Khuông Việt đã kế thừa được rất nhiều tinh hoa về học vấn Phật pháp. Và đây cũng là nền tảng đầu tiên của việc ra đời Thiền phái Trúc Lâm – Yên Tử thời nhà Trần.

Sự vận dụng thành công tư tưởng tu nhập thế và xuất thế của Thiền sư Khuông Việt ta có thể thấy qua bài thơ:

“Cây kia vốn có lửa

Có cây lửa bừng ra

Nếu bảo cây không lửa

Cọ xát lửa đâu ra”.

Cây chính là thế pháp bản thân ta có nghiệp chướng, vì ta nhập thế trong hồng trần; còn lửa chính là Phật pháp, là cảnh giới xuất thế gian. Sự cọ xát cây để có lửa tức là trong bất kỳ nghiệp cảnh nào ta cũng cần phấn đấu và tu luyện để đạt tới chân tâm thực tính.

Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Phật giáo Nam Việt, thiền sư Khuông Việt đã thành lập khối đại đoàn kết toàn dân thông qua tín ngưỡng Phật giáo. Sách đại Việt Sử Kí Toàn Thư chép: “Năm tân Mùi niên hiệu Thái Bình thứ 2 tức năm 971, tương đương với triều nhà Tống là niên hiệu năm Khai Bào thứ 4. Triều đình bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Lưu Cơ làm Đô Hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân. Tăng Thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng Chân uy nghi”. Điều này đã thể hiện tính thống nhất Tam giáo là Nho – Đạo và Phật giáo trong một chỉnh thể phát triển ổn định, đồng thời thống nhất được với các hệ phái khác như Tỳ NI Đa Lưu Chi, Thảo Đường và các học phái Phật giáo Mật Tông thời bấy giờ. Thực sự Phật giáo Nam Việt với tính chật Mật Tông và Thiền Tông viên dụng hoà hợp trên một vùng lãnh thổ có cương giới cũng bắt đầu được đánh dấu từ thời Đinh và tiền Lê, điều này được minh chứng bằng các cột kinh Mật Tông được tìm thấy ở vùng sông Hoàng Long – Ninh Bình. Ngoài ra, với phương châm “nhập gia tuỳ tục”, “tam giáo đồng nguyên” đã khiến cho Thiền tông ở đất Giao Châu kể từ thế hệ Thiền sư Khuông Việt đã có những bước phát triển khác biệt so với Thiền tông Trung Hoa cho dù là Phật giáo dưới triều Đinh và tiền Lê chưa có những bước phát triển mạnh mẻ như ở thời nhà Lý và nhà Trần, nhưng no 1là một giai đoạn rất quan trọng – giai đoạn gieo mầm những nhân tài kiệt xuất của Thiền môn và Thiền sư Khuông Việt là một trong số đó. Ông đã để lại cho đời sau một tấm gương lớn về phẩm hạnh và đức hạnh trên con đường tu học Phật pháp. Khi đạo quả đã mãn Ngài về lập chùa Quy Ẩn và dạy học ở vùng núi Thanh Tước, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy tư liệu lịch sử viết về ông trãi qua năm tháng và chiến tranh bị tấht tháot rất nhiều, nhưng ảnh hưởng của những Thiền tăng học phái Vô Ngôn Thông trong triều đình nhà Đinh và tiền Lê vẫn ngời sáng. Trên tấm bia mang mã số 06944 tại Viện nghiên cứu Hán Nôm ghi địa danh thôn Thuỵ Hương, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên - nơi ông về ở ẩn có đoạn viết:

“Thường nghe nơi học xá được dựng nên mới có cơ đồ ba trăm năm nhà Đường, nơi đình miếu được tu sữa khang trang mới có sự nghiệp nhà Tống ba trăm năm. Vậy là việc nhân nghĩa tất sẽ có phúc báu đời sau, đời sau lẽ nào không noi theo gương sáng đó. Nay nhân từ đầu bản triều đến nay mọi sự an bình nên hưng công động thổ xây dựng chùa này và lập ra văn bia, những mong khai sáng được hiền triết đời trước, chân hưng đạo thống ở đời sau. Lấy bia văn này để soi tâm của Khổng Tử, Mạnh Tử, lấy nghĩa việc này để rạng đức Chu Tử, Trình Tử. Nay khâm phụng – tiền thánh, các vị sư tổ và các vị tiên hiền bản xã.

- Đình triều Quốc sư Khuông Việt

- Trần triều Thái thú Trịnh Quân

- Nho nghiệp Nguyễn Triệu Hiên

- Chính Hoà năm thứ 12 (1692) năm Bính Ngọ mùa Thu”.

(Theo tư liệu Hội thảo khoa học quốc tế Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập)

TT. Thích Thanh Nhiễu

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1- Ngô Sĩ Liên, Đai Việt Sử Kí Toàn Thư.

2- Lê Mạnh Thát, Thiền Uyển Tập Anh.

3- Hoà Thượng Thích Mật Thể, Lịch sử Phật Việt.

4- Hoà thượng Thích Phúc Điền, Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục.

5- Trung Hoa thư cục, Đại Chính Tân Tu Đại Tàng kinh.

6- Biên Duệ Điển và Thần Dị Điển, Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành, Trung Hoa Thư cục.

7- Bản rập văn bia xã Thuỵ Hương, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc yên. Viện nghiên cứu Hán Nôm.

8- Bản rập văn bia tỉnh Ninh Bình. Viện nghiên cứu Hán Nôm.

^ Back to Top