Những người cùng tôi đồng một hạnh. Cầu được sanh chung các cõi nước. Thân, khẩu, ý, nghiệp đều đồng nhau. Tất cả hạnh mầu cùng tu tập...

Tin tức

Cần kế thưà phát huy đường hướng chấn hưng Phật giáo của Tổ Khánh Hòa

Chủ đề hội thảo: “Tổ Khánh Hoà và công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam” không ngoài ý nghĩa ‘ôn cố tri tân

Cần kế thưà phát huy đường hướng chấn hưng Phật giáo của Tổ Khánh Hòa

Chủ đề hội thảo: “Tổ Khánh Hoà và công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam” không ngoài ý nghĩa ‘ôn cố tri tân’ – ôn lại chuyện xưa để biết chuyện nay. Nói cách khác, mượn câu chuyện xảy ra trong quá khứ để chúng ta cùng nhau đắn đo suy gẫm, từ đó rút ra bài học gì từ câu chuyện lịch sử, để làm nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Điều đó biểu thị Phật giáo Việt Nam hiện nay, hay ít nhất là những người trong hội trường này rất quan tâm đến sự hưng thịnh hay suy vong của Phật giáo Việt Nam trong xã hội Việt Nam hiện nay và tương lai, cho nên mới diễn ra buổi hội thảo này.

 

  • Lập trường và định hướng chấn hưng Phật giáo của Tổ Khánh Hoà

 Nếu như phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc, tập trung cải cách ba phương diện: Giáo chế, giáo sản và giáo lý, thì ở Việt Nam đặc biệt chú trọng đến phương diện thành lập Phật học viện đào tạo Tăng ni, phiên dịch kinh điển sang chữ Nôm (Việt), cũng như thành lập các thư viện ngành Phật học để hoằng truyền chánh pháp. Định hướng cải cách chấn hưng Phật giáo này được Tổ Khánh Hoà- chánh Hội trưởng Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học phát biểu trước Đại hội với nội dung như sau:

Phật giáo nghĩa là lời dạy của Phật. Lời dạy của Phật tức là Kinh, Luật, Luận, ba tạng.

Song tại xứ ta đây, Luật chẳng có, Luận cũng không, chỉ có kinh và sám kể không được 200 quyển.

Bởi cớ ấy giáo-đồ phải chịu thất học, lại thiếu người truyền bá giáo lý cho nhơn- chúng tỏ thông.

Vì lẽ ấy nên chúng tôi gắn ra lập hội nầy tại chùa Linh- sơn, để mà lo cho Đạo…

… Tông giáo là giúp đỡ cho xã hội; nay xã hội đã thay đổi phát đạc mà tông giáo còn giữ theo cũ sao?- Nếu tông- giáo còn như vậy thì trái thời, tất phải tiêu diệt.

Thưa quí ngài, bổn phận của chúng ta, chẳng luận là người tại gia hoặc kẻ xuất gia, ai ai cũng đều là đệ tử của Phật, nên phải thể theo bổn- hoài của Phật….[1]

Qua những gì vừa trình bày, cho thấy 5 hạng mục mà các thành viên trong Hội biến thành mục tiêu hành động của Hội, chúng không phải là những tưởng tượng mang tính hư cấu mà bắt nguồn từ thực tế xã hội của Phật giáo vào thời bấy giờ. Nếu nguyên nhân của sự suy đồi Phật pháp là thiếu hiểu biết về Phật học, thì cách giải quyết của tệ nạn này phải là nâng cao kiến thức Phật học. Việc nâng cao kiến thức Phật học không thể bắt nguồn từ tưởng tượng theo quan điểm cá nhân, mà phải xây dựng trên nền tảng Kinh Luật và Luận; Kinh Luật Luận trong Tam tạng kinh điển không phải do một lần kết tập thành, mà do nhiều lần kết tập, cũng không phải của một bộ phái mà nhiều bộ phái… Vì thế, người muốn hiểu được quan điểm tư tưởng khác nhau trong Phật giáo cần phải được huấn luyện chuyên nghiệp, tức chỉ cho các cơ sở giáo dục. Ngoài ra cần chú ý phương diện kinh điển. Kinh điển là đối tượng nghiên cứu của giới nghiên cứu Phật học. Thành quả nghiên cứu giáo dục có tốt hay không tuỳ thuộc vào nguồn tư liệu gồm kinh và sách có phong phú hay không, nghiên cứu về giáo dục, nếu không có tư liệu ắt hẳn kết quả nghiên cứu bị giới hạn. Như vậy việc phiên dịch Đại tạng kinh từ Hán văn, Tạng văn, Pali văn và cả Phạn văn thành bộ Đại tạng kinh bằng tiếng Việt là nhu cầu cấp thiết cho Phật giáo Việt Nam. Do vậy, tôi cho rằng, Nam kỳ Nghiên cứu Phật học đề xuất 5 điểm hành động của hội là hợp lý.

  1. Hiện nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo duy nhất được nhà nước công nhận, mặc dù trong tổ chức ấy có nhiều tông phái, phương pháp tu tập khác nhau đều được tôn trọng, nhưng về phương diện tổ chức hành chánh thì chỉ có một tổ chức duy nhất, thống nhất từ Nam ra Bắc, từ trung ương đến địa phương. Về phương diện tổ chức hành chánh, tôi cho rằng hình thức Tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam khá ổn định. Tuy nhiên, về phương diện phát triển, có một số phương diện hoạt động mà Giáo hội chưa phát huy, có những hoạt động mang tính cầm chừng. Theo tôi nguyên nhân chủ yếu là một người kiêm nhiệm nhiều chức vụ, sắp xếp nhân sự không chọn theo tiêu chí chuyên môn… điều đó dẫn đến trường hợp có tên tổ chức, có người giữ chức vụ, nhưng không có người giải quyết công việc, kết quả chỉ là những báo cáo trên giấy, thật tế việc đâu còn đấy.

    Tuy nhiên, xã hội luôn thay đổi, xã hội đã đổi thay, cách suy nghĩ của con người cũng không thể dừng lại ở một điểm nào đó. Đất nước Việt Nam đang trong giai đoạn trở mình, muốn hoà nhập sánh vai cùng với 5 châu 4 bể, trong tinh thần bình đẳng, đôi bên cùng có lợi hợp tác làm ăn, do vậy các nước trên thế giới đã đến Việt Nam, Việt Nam cũng đã hoà nhập vào trào lưu chung của thế giới. Sự hoà nhập đó chúng ta không nên đơn giản suy nghĩ chỉ có lợi, mà cần phải hiểu rằng bên sau cái lợi về vật chất, cái bóng của sự phát triển kinh tế, trong ấy tìm ẩn khá nhiều phương diện bất lợi cho xã hội Việt Nam, nếu như chúng ta không chuẩn bị đề phòng tốt. Ví dụ nhân dân Việt Nam đang phải hứng chịu các chất thải độc hại từ những nhà máy, xí nghiệp của cái gọi là phát triển kinh tế; trẻ em Việt Nam đang là con thiêu thân lao vào mặt trái của cái gọi là công nghệ thông tin, tiêu biểu cho văn minh của nhân loại, các tệ nạn xã hội càng ngày càng phức tạp và nhiều hơn; còn nguy hiểm hơn một bộ phận không nhỏ của tầng lớp tu sĩ Phật giáo Việt Nam, là người tiêu biểu cho đạo đức xã hội cũng đang rơi vào con đường sa đoạ….Do vậy, chúng ta cần phải đắng đo suy nghĩ cho thật kỹ hai mặt trong cùng một vấn đề. Vì sự phát triển đất nước, Việt Nam không thể theo chính sách ‘bế quan toả cảng’ mà phải mở lòng dang tay hội nhập cùng với thế giới, đồng thời chấp nhập mặt trái của vấn đề. Tuy nhiên mặt trái của vấn đề nhiều hay ít, nặng hay nhẹ đều tuỳ thuộc vào biện pháp phòng ngừa xử lý của chúng ta. Thế thì biện pháp giải quyết của Phật giáo Việt Nam chúng ta trước thời đại hội nhập là gì?

     

    • Kết luận

Phật giáo Việt Nam ở giai đoạn hiện nay không còn hiện tượng suy đồi như thời chấn hưng Phật giáo ở đầu thế kỷ XX, nhưng điều đó không đồng nghĩa Phật giáo chúng ta đang ở giai đoạn đỉnh cao của trí tuệ, mà chúng ta cần hiểu rằng, Phật giáo Việt Nam chúng ta so với thế giới còn rất lạc hậu về mặt nghiên cứu học thuật. Phật giáo Việt Nam thường tự hào về Phật giáo Việt Nam đã có 2000 năm lịch sử, tuy nhiên có một điều đáng tủi hổ là cho đến nay Phật giáo Việt Nam vẫn chưa phiên dịch biên tập hoàn chỉnh Bộ Đại tạng kinh bằng tiếng Việt. Trách nhiệm đó thuộc về ai?

Nếu Phật giáo Việt Nam xem việc đào tạo Tăng ni, phiên dịch và biên tập Đại tạng kinh là nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hội. Tôi tin rằng tương lai không xa Phật giáo Việt Nam sẽ có Bộ Đại tạng kinh hoàn chỉnh, có đội ngũ tăng ni trẻ đủ tài đức để đảm đương các Phật sự của Giáo hội. Khi Phật giáo Việt Nam chúng ta đã có kinh điển bằng tiếng Việt, có thư viện chứa đầy đủ kinh sách nghiên cứu, tăng ni là những người rất am tường Phật học, thì trong Phật giáo Việt Nam chúng ta không còn hiện tượng phải nhờ cậy hình thức cúng bái cầu nguyện của các Lạt Ma để thay thế cách tu tập của truyền thống Phật giáo Việt Nam; chúng ta cũng không phải vay mượn kiểu giải thích Phật học của người Hoa cho người Hoa hiểu Phật học, đem nó biến thành các lý giải Phật học cho người Việt Nam. Có như thế chúng ta mới tự hào về một đất nước độc lập, có niềm tin độc lập, cách lý giải Phật pháp cũng độc lập. Đây là điều mà chúng ta cần phải đắn đo trăn trở để xây dựng một đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập.

  1. Các Học viện Phật giáo Việt Nam tại 3 miền cần tiến hành mở khoa Phiên dịch và biên tập Đại tạng kinh

    Tiến sĩ. Thích Hạnh Bình

    Sách tham khảo:

    1. [1] “Từ Bi Âm” 5, ‘Cuộc nhóm Đại Hội của Đại hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học’ trang 30-36.<p font-size:14px;background-color:#ffdea1;"="" style="box-sizing: border-box; margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; outline: 0px; font-size: 14px; vertical-align: baseline; background-image: initial; background-position: initial; background-size: initial; background-repeat: initial; background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; transition: 0.3s; font-family: &quot;Helvetica Neue&quot;, Helvetica, Arial, sans-serif; text-align: justify;">[2] “Từ Bi Âm” 2, trang 41.

Các bài nghiên cứu

  • Triết lý
    Triết lý "Cư trần lạc đạo" của Trần Nhân Tông và PGVN

    Kỷ niệm 700 năm ngày mất (1308-2008) của vua Trần Nhân Tông (1258-1308) là dịp đặc biệt để chúng ta cùng tôn vinh những cống hiến của Người cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Trần Nhân Tông là một vị vua sáng không chỉ để lại những tấm gương chiến công lừng lẫy trong lịch sử dựng nước và giữ nước, mà còn là vị sư tổ của một dòng thiền Phật giáo – Trúc Lâm Yên Tử - đặc trưng Việt Nam có nhiều giá trị tinh thần, tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật lưu đời làm rạng danh Phật giáo thời Trần, như một trong những đỉnh cao thịnh vượng của Phật giáo dân tộc.

  • Đọc kinh, sám hối, tham thiền
    Đọc kinh, sám hối, tham thiền

    Chúng ta tu, dành thì giờ đọc kinh, sám hối, niệm Phật, tham thiền. Thầy muốn nhắc Phật tử tham thiền rằng phần nội dung quan trọng hơn, không phải tham thiền chỉ là ngồi yên. Ngồi yên để trở thành vô tri vô giác như gỗ đá là sai. “Tham” là chúng ta tham cứu, tìm hiểu vấn đề gì để thực tập việc đó.

  • Tu hành có bạn
    Tu hành có bạn

    HỎI: Trong các cuộc đàm đạo, có đạo hữu lập luận như sau: Đi chùa lạy Phật và tụng kinh thường xuyên cũng tốt. Không đi chùa, ở nhà tu tập, lạy Phật và tụng kinh cũng không sao. Xin hỏi, nói như vậy có đúng Chánh pháp không? (PHƯỚC QUANG, phuocquangle56@yahoo.com.vn)

  • Quyền lực và sắc đẹp làm hại con người
    Quyền lực và sắc đẹp làm hại con người

    Đa số người có quyền lực đều sống trong lo âu, sợ hãi, bất an. Vì sao? Vì sợ người khác tranh giành, chiếm đoạt quyền lợi, địa vị của mình nên bằng mọi cách triệt tiêu đối thủ trước, dù biết đó là đê hèn, ti tiện và thấp kém. Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta, nhất là thứ quyền lực chính trị giống như con dao hai lưỡi, đụng vô đầu nào cũng bị đứt tay.

^ Back to Top