Pháp thí thắng mọi thí - Pháp hỷ thắng mọi hỷ - Ái diệt thắng mọi khổ - Niết-bàn lạc tối thượng.

Phật giáo Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông và tinh thần
Vua Trần Nhân Tông và tinh thần "Bụt ở trong nhà"

Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội.

Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.3)
Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.3)

Những phẩm chất "siêu phàm" đó do thế không chỉ là phẩm chất giả định biểu lộ một ước mơ. Ngược lại, chúng là những phẩm chất có thực, có thể đạt được thông qua một quá trình luyện tập sáu phương pháp "mầu nhiệm" (lục diệu pháp môn) vừa nói, chứ không phải bằng việc tắm "nước sông Hằng" để được thần thông, như truyện 14 đã ghi.

Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.2)
Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.2)

Tuy nhiên, với tư cách một bản kinh, Cựu tạp thí dụ kinh tự bản thân có những lời giáo huấn đặc biệt Phật giáo. Ngay truyện đầu, nó muốn nhấn mạnh đến giá trị của việc tuân thủ các điều răn của Phật giáo thông qua việc thắng được cả quỷ dữ. Đề cao vai trò của giới luật là một thông điệp giáo lý đầu tiên của Cựu tạp thí dụ kinh.

Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.1)
Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng (P.1)

Chính quyền Hùng Vương cho đến những năm đầu của thế kỷ thứ I (sau Dương lịch) là một chính quyền hoàn chỉnh với bộ máy công quyền thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ đất nước.

Phật hoàng Trần Nhân Tông và những giá trị siêu việt
Phật hoàng Trần Nhân Tông và những giá trị siêu việt

Về đạo đức cán bộ, phục vụ nhân dân và đất nước, nên học tập tinh thần của ngài “xem ngai vàng như dép rách”, hay thực hiện tư tưởng “cán bộ là công bộc của dân” (Hồ Chí Minh), xem chức quyền là cơ duyên để phục vụ đất nước và nhân dân, là nhân duyên để mình thực hiện tinh thần đoàn kết, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Noi gương ngài lấy đức trị để “trị quốc an dân”. Với tinh thần từ bi, vô ngã vị tha của đạo Phật, làm được những điều như vậy là báo đáp thâm ơn với Phật hoàng Trần Nhân Tông và chúng ta đã “tu nhân tích phúc”.

Khởi nguyên Thiền Học Việt Nam
Khởi nguyên Thiền Học Việt Nam

Phần đông chúng ta đều cho rằng đạo Phật có mặt ở Việt Nam là do du nhập từ Trung Quốc, nên Thiền học Việt Nam cũng cùng chung số phận như thế. Mọi người đều không ngờ rằng trước khi Tổ Đạt Ma mang Thiền tông sang Trung Quốc (thế kỷ VI) thì ở Việt Nam (thế kỷ III) đã có Thiền học gần ba thế kỷ rồi, Thiền học đó lại được truyền ngược lại từ Việt Nam sang Trung Quốc. Và người phát huy nền Thiền học đó cũng như hoằng truyền đạo Phật tại Việt Nam chính là Thiền sư Khương Tăng Hội.

Tìm hiểu ý nghĩa câu kệ Sùng Nghiêm của Trần Nhân Tông
Tìm hiểu ý nghĩa câu kệ Sùng Nghiêm của Trần Nhân Tông

Rõ ràng trong câu này Ngài muốn nhắc nhủ các môn đệ của mình rằng chớ để mùa xuân – đời người trôi qua một cách nhạt nhẽo, phí hoài (suông) như đời sống của loài cuốc đêm đêm chỉ kêu hoang, mà mục đích sống của chúng “chỉ là để có miếng ăn, chỗ ở và hoạt động tình dục mà thôi.

Quan điểm về Theravāda và Mahāyāna của Phật Hoàng Trần Nhân Tông
Quan điểm về Theravāda và Mahāyāna của Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Hiện nay trên thế giới có nhiều tông phái Phật giáo, tuy nhiên xét về tổng thể thì có hai hệ thống tông phái Phật giáo chính: Theravāda và Mahāyāna. Phật giáo Theravāda (Phật giáo Nguyên thủy) thịnh hành ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia. Phật giáo Mahāyāna (Phật giáo Đại thừa) được truyền bá rộng rãi ở các nước Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, và Nhật Bản. Riêng ở Việt Nam, cả hai hệ thống Phật giáo Theravāda và Mahāyāna cùng tồn tại và phát triển.

Góp phần đề nghị một đề cương biên dịch cho Đại tạng kinh Việt Nam
Góp phần đề nghị một đề cương biên dịch cho Đại tạng kinh Việt Nam

Hơn 60 năm của thế kỷ XX, chúng ta đã phiên dịch được khá nhiều, nhưng do những điều kiện khách quan và chủ quan, Đại tạng kinh Việt Nam vẫn chưa được hoàn thành. Thế kỷ XXI đã đi qua được 4 năm, thời gian vẫn đang mở rộng trước mắt - mở rộngnhưng không phải là vô tận - vì hầu như không còn lý do gì để chần chừ, trì trệ; hoàn thành Đại tạng kinh Việt Nam phải là Phật sự hàng đầu của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Góp chút công sức cho Đại tạng kinh Việt Nam
Góp chút công sức cho Đại tạng kinh Việt Nam

Từ đầu tháng 3 năm 1997, khi nhận làm Trưởng ban Biên tập cho Đại tạng kinh Linh Sơn Pháp Bảo(1), văn phòng đặt tại chùa Pháp Bảo, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh(2), thì tôi đã có được một vài hiểu biết sơ bộ về Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu (ĐTK/ĐCTT)(3), cũng như có được chút ít kinh nghiệm trong công việc dịch thuật Hán tạng sau hơn hai năm tham gia Việt dịch phần Kinh tạng của ĐTK này, không còn cái bỡ ngỡ, ngơ ngác của buổi đầu.

Ảnh hưởng của phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam(1920) đến việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam(1981)
Ảnh hưởng của phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam(1920) đến việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam(1981)

Phật giáo Việt Nam vào thời kỳ cực thịnh Đinh, Lê, Lý, Trần hơn 400 năm, nhưng khi bước sang thời Hậu Lê, Phật giáo mất dần ảnh hưởng và không phát triển, càng ngày càng lu mờ do chế độ phong kiến đề cao Nho giáo, Phật giáo ảnh hưởng giai đoạn nầy hơn 300 năm, đến thời kỳ Pháp thuộc Phật giáo bị thế lực Tây phương đàn áp, chèn ép không cho hình thành và phát triển, ảnh hưởng gần 100 năm.

Đại Tạng Kinh Việt Nam

Tháng Năm