Pháp thí thắng mọi thí - Pháp hỷ thắng mọi hỷ - Ái diệt thắng mọi khổ - Niết-bàn lạc tối thượng.

>>

Thắng tri

Thắng tri (Abhijànàti) là một thuật ngữ Phật học chỉ cho sự hiểu biết đưa đến buông bỏ mọi trói buộc khổ đau thuộc thế giới sinh tử luân hồi.Đó là sự thấy biết đặc biệt phát khởi ở những tâm hồn bắt đầu nhận ra sự thật phiền toái khổ đau của sự kiện hiện hữu, thấy rõ bản chất giới hạn và bất an của thế giới ngũ uẩn, không còn mong muốn tìm cầu lạc thú thế gian, nỗ lực nhiếp phục và chuyển hóa đời sống theo Bát Thánh đạo hay con đường xuất ly Giới-Định-Tuệ.
Mục lục
Thắng tri (Abhijànàti) là một thuật ngữ Phật học chỉ cho sự hiểu biết đưa đến buông bỏ mọi trói buộc khổ đau thuộc thế giới sinh tử luân hồi.Đó là sự thấy biết đặc biệt phát khởi ở những tâm hồn bắt đầu nhận ra sự thật phiền toái khổ đau của sự kiện hiện hữu, thấy rõ bản chất giới hạn và bất an của thế giới ngũ uẩn, không còn mong muốn tìm cầu lạc thú thế gian, nỗ lực nhiếp phục và chuyển hóa đời sống theo Bát Thánh đạo hay con đường xuất ly Giới-Định-Tuệ.

Trong giáo lý đạo Phật, khả năng hiểu biết (jànana) của con người được phân thành nhiều cấp độ khác nhau, gồm tưởng tri (sanjànàti), thức tri (vijànàti), thắng tri (abhijànàti), tuệ tri (pajànàti), liễu tri (parijànàti), tương ứng với quá trình thực tập chuyển hóa và thanh lọc tâm thức. Ở cấp độ hiểu biết thế gian thì có tưởng tri và thức tri. Ở cấp độ xuất thế thì có thắng tri, tuệ tri và liễu tri.

Tưởng tri (sanjànàti) là hiểu biết thông thường của con người nhận ra một sự vật hay hiện tượng nhờ ký ức hay do nhớ lại, hồi tưởng lại những gì mình đã trải nghiệm; sự hiểu biết thuộc nghiệp thức, gắn liền với ngã tưởng, đi đôi với tập quán tham ái và chấp thủ, có công năng nuôi lớn tham-sân-si, nuôi lớn khổ đau.

Thức tri (vijànàti) tức sự hiểu biết thế gian, là kiến thức, tri thức mang tính học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, được trưởng thành trên cơ sở học tập, thu thập, tích lũy và trau dồi kiến thức; sự hiểu biết mang tính nhị nguyên, đi đôi với ngã tưởng, gắn liền với thói quen tham ái và chấp thủ, có công năng chuyển đổi và cải thiện đời sống theo chiều hướng phước báo hữu lậu nhưng không làm sanh khởi đạo lộ xuất thế vì không nhận thức đầy đủ Khổ đế (không hướng đến thắng tri, tuệ tri và liễu tri).

Thắng tri (abhijànàti) nghĩa là thấy biết thù thắng, vượt lên trên sự hiểu biết thông thường của thế gian, sự thấy biết đưa đến ly tham, phát khởi nhờ tu tập Tăng thượng giới (Adhisìla), Tăng thượng tâm (Adhicitta), Tăng thượng trí tuệ (Adhipanna), thấy biết trực diện, thuộc Chánh niệm (Sammàsati) và Chánh định (Sammàsamàdhi), vượt ra ngoài mọi tạp niệm và vọng niệm, không tưởng tượng, không suy luận; sự nhận ra bản chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng, có khả năng rời bỏ mọi tập quán ái luyến và chấp trước, hướng đến ly tham, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi, được trưởng thành trên cơ sở sự thực hành Bát Thánh đạo hay công phu tu tập và chuyển hóa tự nội thông qua tiến trình rèn luyện đạo đức (Giới), huấn luyện tâm thức (Định) và phát triển trí tuệ (Tuệ).

Tuệ tri (pajànàti), sự phát triển lớn mạnh của thắng tri, có nghĩa là thông hiểu về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt qua kinh nghiệm hành sâu Bát Thánh đạo hay qua sự thực tập chuyển hóa tự nội bằng con đường Giới-Định-Tuệ, thấy rõ bản chất biến hoại khổ đau hàm tàng trong mọi hiện hữu, trong con người ngũ uẩn, có khả năng dứt trừ vô minh, buông bỏ mọi tập quán tham ái và chấp thủ, hướng đến đoạn trừ các lậu hoặc, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi.

Liễu tri (parijànàti) tức sự thấy biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn về khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau của những người đã tu tập và thành tựu đầy đủ về mười Thánh đạo, gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, Chánh giải thoát, đã hoàn thành mục đích đoạn tận các lậu hoặc, không còn tái sinh, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi. Đây là sự thấy biết của chư Phật và các vị đã giác ngộ.

Trong kinh Pháp môn căn bản (Mùlapariyàyasutta) thuộc tuyển tập Trung bộ, Đức Phật nêu thông điệp nói về khổ (dukkha) và diệt khổ (dukkhanirodha) thông qua việc phân biệt và làm sáng tỏ về hai loại hiểu biết, tưởng tri (sanjànàti) và thắng tri (abhijànàti). Tưởng tri là hiểu biết thuộc phạm vi thế gian, gắn liền với tham ái, khổ đau, tiếp tục mời gọi khổ đau tái sinh; trong khi thắng tri là hiểu biết xuất thế, đưa đến ly tham, diệt khổ, đi ra khỏi khổ đau luân hồi.

Loại thứ nhất, tưởng tri, chỉ cho sự hiểu biết của kẻ vô văn phàm phu (puthujjana), chưa có cơ duyên học hỏi và hành trì lời Phật dạy. Đối với kẻ vô văn phàm phu này chỉ có sự hiểu biết gọi là tưởng tri, nghĩa là hiểu biết mọi sự vật và hiện tượng gắn liền với tập quán tham ái và chấp trước, đi đôi với ngã tưởng, làm tăng trưởng tham-sân- si, không thấy được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các pháp hữu vi (24 pháp trong bài kinh). Do bị trói buộc bởi sự hiểu biết chấp thủ mê lầm như vậy nên kẻ vô văn phàm phu không thoát khỏi khổ đau sinh tử luân hồi, nghĩa là không đạt đến liễu tri khổ đau và đoạn tận khổ đau:

“Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: “Địa đại là của ta” - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại”.[1]

Loại thứ hai, thắng tri, chỉ cho sự hiểu biết của người có học tập và hành trì lời Phật dạy gọi là vị hữu học (sekha). Nhờ có học tập và tu tập pháp giác ngộ của Phật, vị hữu học vượt qua tưởng tri và thức tri, đạt được thắng tri, nhận thức rõ tính chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng, không còn bị tập quán tham ái và chấp thủ chi phối, không rơi vào dục hỷ và chấp ngã đối với các pháp hữu vi (24 pháp trong bài kinh). Chính thái độ hiểu biết chơn chánh sáng suốt như vậy khiến cho vị hữu học có khả năng giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi, tức là có khả năng đạt đến liễu tri khổ đau và đoạn tận khổ đau:

“Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn, khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Địa đại là của ta”, - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại”.[2]

Như vậy, ngoài tưởng tri và thức tri thuộc phạm vi hiểu biết thế gian, có khả năng giúp cho con người nhận biết, chuyển đổi và cải thiện cuộc sống giới hạn trong phạm vi khổ đau thế gian, đạo Phật giới thiệu với mọi người các cấp độ hiểu biết khác siêu việt các nhận thức trần thế. Đó là thắng tri, tuệ tri và liễu tri thuộc lãnh vực xuất thế, có khả năng giúp cho con người vượt qua giới hạn của tưởng tri và thức tri, đạt đến sự thấy biết như thật về hiện hữu khổ đau, về nguyên nhân dẫn đến hiện hữu khổ đau, về sự diệt trừ khổ đau và về con đường đưa đến sự diệt trừ khổ đau hiện hữu.

Nói cách khác, tưởng tri và thức tri là những hiểu biết gắn liền với tham ái, hướng đến tìm cầu hạnh phúc trong khổ đau, tìm kiếm sự hân hoan thỏa mãn trong thế giới sinh tử luân hồi, không nhận thức được khổ đau vốn hàm tàng trong hạnh phúc, không thấy được những gì mình khao khát tìm cầu thực sự là khổ đau, là đối tượng gây nên khổ đau; trong khi thắng tri, tuệ tri và liễu tri là những hiểu biết dẫn đến ly tham, hướng đến buông bỏ thế giới sanh diệt khổ đau, dứt trừ tham ái, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi.

Trong kinh Thánh cầu thuộc tuyển tập Trung bộ, Đức Phật gọi sự hiểu biết gắn liền với tham ái, có xu hướng tìm cầu hạnh phúc trong khổ đau sinh tử luân hồi là phi Thánh cầu (anariya pariyesàna). Bậc Giác ngộ cắt nghĩa:

“Chư Tỷ-kheo, thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm.

Này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh;voi, bò,ngựa đực,ngựa cái là bị sanh;vàng và bạc là bị sanh.
Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị bệnh; dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì các Người nói là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu; dê và cừu là bị sầu, gà và heo là bị sầu;voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sầu lại tìm cầu cái bị sầu.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị ô nhiễm; dê và cừu là bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu”.[3]
Khác với tưởng tri và thức tri, những hiểu biết chấp thủ thuộc thế gian: ”tự mình bị sanh, già, bệnh, chết lại tìm cầu cái bị sanh, già, bệnh, chết”, người có học tập và tu tập theo lời Phật dạy có được sự hiểu biết tỉnh táo và sáng suốt gọi là thắng tri, nhận thức rõ bản chất giới hạn bất an của thế giới hiện hữu, hiễu rõ sự luẩn quẩn khổ đau của tập quán tham ái và chấp thủ đưa đến tái sinh, quyết tâm tìm cầu một lối sống thoát ly mọi vướng mắc và trói buộc thế gian gọi là Thánh cầu (Ariya pariyesàna). Vị ấy được mô tả có lối sống như vầy:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu”.[4]

Như vậy, Thánh cầu hay khuynh hướng rời xa các ham muốn trói buộc thế gian là dấu hiệu chuyển đổi tâm thức của những người có học nghe và hành trì lời Phật dạy, là biểu hiện của thắng tri, tức sự nhận ra bản chất vô thường bất an của ngũ uẩn, không còn mê say tìm cầu các đối tượng sanh diệt thuộc thế giới sinh tử luân hồi, tâm hướng cầu tịch tịnh, tức hướng về viễn ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Khuynh hướng tâm thức có được sự hiểu biết và quyết định như vậy thì gọi là thắng tri (abhijànàti), tiếp tục được tu tập và phát triển thì đạt đến tuệ tri (pajànàti) và liễu tri (parijànàti), tức đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, chứng đắc Niết-bàn, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi.

Thắng tri được tu tập và phát triển như thế nào?

Nhìn tổng quát, thắng tri (abhijànàti) là sự sanh khởi và phát triển của Chánh kiến (Sammàditthi) trong Bát Thánh đạo, tức sự hiểu biết chân chánh về khổ, khổ tập khởi, khổ đoạn diệt và con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nhờ có học tập và tu tập giáo pháp Giới-Định-Tuệ của Phật. Thắng tri hay Chánh kiến này được tu tập và hỗ trợ bởi các chi phần khác của Bát Thánh đạo hay Giới-Định- tuệ thì phát triển lớn mạnh thành ra Chánh trí và Chánh giải thoát hay đạt đến tuệ tri và liễu tri, tức đoạn tận khổ đau sinh tử luân hồi. Như vậy, lộ trình đưa đến thắng tri chính là Bát Thánh đạo hay nếp sống Giới-Định-Tuệ.

Nói cụ thể, thắng tri là sự thấy biết như thật về bản chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của thế giới ngũ uẩn hay thế giới căn-trần đưa đến tâm nhàm chán, ly tham, buông bỏ các nguyên nhân dẫn đến khổ đau tái sinh, được tu tập và phát triển cơ bản do hành sâu Thiền định và phát triển tuệ quán (vipassanà). Trong kinh Thiền định thuộc tuyển tập Tương ưng bộ, Đức Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo tu tập thắng tri như vầy:

“Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỷ-kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú.

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì? Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỷ-kheo, đây là sắc tập khởi, đây là thọ tập khởi, đây là tưởng tập khởi, đây là hành tập khởi, đây là thức tập khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn diệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ; Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng... Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỷ-kheo, đây là sắc đoạn diệt, đây là thọ đoạn diệt, đây là tưởng đoạn diệt, đây là các hành đoạn diệt, đây là thức đoạn diệt”.[5]

Một lời khuyên khác xác nhận Thiền định (chỉ và quán) có công năng đưa đến thắng tri, tức thấy biết như thật về bản chất vô thường của thế giới ngũ uẩn hay thế giới căn-trần:

“Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ- kheo, một Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.

Và hiểu rõ như thật cái gì?

Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...

Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ- kheo, vị Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật”.[6]

Trong một văn cảnh khác, bậc Giác ngộ khẳng định nhờ thắng tri, liễu tri thế giới ngũ uẩn hay thế giới căn-trần, nghĩa là thấy như thật tính chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của thế giới ngũ uẩn hay thế giới căn-trần, mà tất cả khổ đau và những gì khiến khổ đau tiếp tục phát sinh gọi chung là khổ uẩn (dukkhakkhandha) đều được đoạn tận:

“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri (abhinnàparinnà). Hãy lắng nghe.

Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri?

Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các sắc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Tai... Mũi... Lưỡi cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các vị cần  phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

Ý cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các pháp cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri”.[7]

“Pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri” mà Đức Phật muốn thuyết giảng cho các Tỷ-kheo trên đây không gì khác chính là trí tuệ, vì trí tuệ có nghĩa là thắng tri (abhinnatthà), có nghĩa là liễu tri (parinnatthà), có nghĩa là đoạn tận (pahànatthà) tất cả khổ uẩn (dukkhakkhandha).[8]

Đến đây, chúng ta có thể đi đến nhận xét rằng thắng tri (abhijànàti) là một tên gọi khác của trí tuệ (pannà/ nàna/vijjà/annà) trong đạo Phật, có công năng đưa đến liễu tri và đoạn tận khổ đau, được tu tập và trưởng thành trên cơ sở sự thực hành Bát Thánh đạo hay Giới-Định-Tuệ. Đó là sự hiểu biết tập trung nhắm vào khổ và diệt khổ, được thành tựu do công phu tu tập và chuyển hóa tự nội thông qua tiến trình rèn luyện đạo đức (Giới), huấn luyện tâm thức (Định) và phát triển trí tuệ (Tuệ), nhắm đến liễu tri (parijànàti) khổ đau và đoạn tận (pahàna) khổ đau.

Với phương thức phát triển và công năng mang tính đặc thù như vậy, thắng tri hay trí tuệ của đạo Phật khác với tri thức thông thường của thế gian. Trí tuệ của đạo Phật có công năng giúp con người liễu tri (parijànàti) và đoạn tận (pahàna) khổ đau, vì nó trưởng thành trên nền tảng sự thực hành Bát Thánh đạo hay tu tập Giới-Định-Tuệ, tức kết quả của thắng tri (abhijànàti), tuệ tri (pajànàti) và liễu tri (parijànàti). Kiến thức hay tri thức thông thường của thế gian chỉ giới hạn ở cấp độ tưởng tri (sanjànàti) và thức tri (vijànàti), không phát triển theo như cách của đạo Phật nên không có khả năng đảm đương vai trò liễu tri (parijànàti) và đoạn tận (pahàna) khổ đau.


Chú thích:

1. Kinh Pháp môn căn bản, Trung bộ.
2. Kinh Pháp môn căn bản, Trung bộ.
3. Kinh Thánh cầu, Trung bộ.
4. Kinh Thánh cầu, Trung bộ.
5. Kinh Thiền định, Tương ưng bộ.
6. Kinh Thiền định, Tương ưng bộ.
7. Kinh Đoạn tận (1), Tương ưng bộ.
8. Đại kinh Phương quảng, Trung bộ.


Theo văn hoá Phật giáo số 288 ngày 01-01-2018

Đại Tạng Kinh Việt Nam

Tháng Năm