Pháp thí thắng mọi thí - Pháp hỷ thắng mọi hỷ - Ái diệt thắng mọi khổ - Niết-bàn lạc tối thượng.

>>

Sát sinh và hậu quả dưới góc nhìn của Phật giáo

Hiểu được sát sinh và những hậu quả, là người con Phật, chúng ta phải nêu cao tinh thần không sát sinh và cố gắng hướng đến việc ăn chay để tốt cho sức khỏe, tốt cho môi trường sống và nhất là tốt cho tinh thần, giúp việc tu hành thêm tinh tấn và sớm đạt được thành tựu nhất định.
Mục lục

Sát sinh dưới góc nhìn của Phật giáo

Sát sinh và những hậu quả sát sinh Đức Phật đã đưa tội sát sanh vào giới cấm thứ nhất trong ngũ giới, nghĩa là Ngài đã thấy hậu quả không lường của việc sát sinh hại vật.

Sát sinh là cướp đi mạng sống của con người hoặc loài vật. Người đời thường có câu “ Vật dưỡng nhơn” với tư tưởng con vật sinh ra là để phục vụ nhu cầu ăn uống cho con người, dẫn đến họ xem việc sát sanh, cướp đi mạng sống của loài vật là chuyện bình thường. Nhưng đằng sau đó là những hậu quả khó lường.

Có một bài kệ như sau:

“Xưa nay trong một bát canh

Oán sâu như bể hận thành non cao

Muốn hay nguồn gốc binh đao

Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh”.

Sát sinh không phải là một hành động bình thường của một con người lương thiện. Với đạo Phật luôn xem trọng sinh mạng của chúng sinh là bình đẳng kể cả người hay vật thì góc độ của sát sanh thật tàn nhẫn. Mỗi chúng ta, những loài hữu tình có cảm xúc và cảm giác đều ham sống sợ chết, sợ đau sợ khổ thì với những loại vật cũng vậy, chúng cũng có cảm giác sợ hãi, đau đớn và sân hận khi bị cướp đoạt mạng sống. Thế nhưng nhu cầu ăn uống, ham ăn ngon, ăn lạ đã che lắp trí tuệ, khiến chúng ta trở nên tàn nhẫn.

Sát sinh và những hậu quả sát sinh Đức Phật đã đưa tội sát sanh vào giới cấm thứ nhất trong ngũ giới, nghĩa là Ngài đã thấy hậu quả không lường của việc sát sinh hại vật. Và ngày nay cũng thế, các giới khoa học chứng minh về tác hại sức khỏe của việc ăn thịt động vật cũng như ô nhiễm môi trường từ các lò mổ thải ra.

Xưa nay người ta vẫn coi việc giết hại sinh linh – đặc biệt là giết hại những súc vật lớn là điều tối kỵ. Phật gia có giảng: “Vạn vật hữu linh”, còn trong dân gian lại có câu: “Sinh nghề tử nghiệp”, có người nói chữ “nghiệp” ở đây không chỉ có hàm ý biểu thị nghề nghiệp mà còn có hàm ý là chỉ nghiệp lực (ác nghiệp) mà họ gây ra trong chính cái nghề mà mình đang làm, xem ra cũng không phải là không có lý!

Những hậu quả nặng nề từ việc sát sinh 

Một người có thói quen sát sanh và tư tưởng sát sanh sâu sắc khiến họ mất đi lòng từ – một tấm lòng biết yêu thương, cảm thông.

Mất đi lòng từ, tăng trưởng sự sân hận

Một người có thói quen sát sanh và tư tưởng sát sanh sâu sắc khiến họ mất đi lòng từ – một tấm lòng biết yêu thương, cảm thông. Họ thường hay nóng giận, khó chịu và dùng vũ lực để giải quyết vấn đề, bởi những kẻ đồ tể thường tiếp xúc với những vật giết hại ghê tởm, nghe tiếng kêu cứu của loài vật hằng ngày làm chai sạm cảm xúc, thấy máu me không còn sợ hãi, họ bị áp lực bởi tiếng ồn ào, nóng bức ở lò mổ khiến sự sân hận ngày càng tăng.

Sân hận là mặt trái của lòng từ. Không có lòng từ con người sẽ không bao giờ thoát ra được sự luận hồi. Bởi sân hận là 3 con rắn độc mà Đức Phật đã từng dạy, là nhân của địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Kinh Phạm Võng nói: “Người ăn thịt, đoạn dứt hạt giống Phật tính đại từ bi, hết thảy chúng sinh thấy đều tránh xa”. Cố Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có khuyến cáo chúng ta nên ăn chay, phóng sanh và không sát sanh, bởi không có một vị Phật nào gây đau khổ cho chúng sanh.

Gây sự oán thù, dẫn đến chiến tranh

Thân thể, mạng sống là vốn quý nhất của con người, và động vật cũng vật. Vì thế khi bị giết, loài vật vô cùng phẫn nộ và tức giận vì bị làm đau, sợ hãi. Tiếng kêu cứu, gào thét của chúng trước ngưỡng cửa của cái chết là minh chứng. Chính sự thù ghét này đi theo dòng nhân quả trả vay. Những ai đã từng lấy mất đi sinh mạng của ai thì nhân quả báo ứng sẽ đến khi có đủ nhân duyên mà không cách nào hóa giải được.

Có một câu chuyện về dòng nhân quả của nghiệp sát sinh vào thời của Đức phật như sau:

"Khi Đức Phật còn tại thế, vua Lưu Ly mang đại binh đi đánh nước Ca-tỳ-la-vệ. Phật từng đích thân đi gặp vua Lưu-ly thỉnh cầu giải quyết hòa bình, nhưng cuộc hòa đàm không thành, Phật bèn bảo dòng họ Thích Ca phòng thủ tự vệ không nên chống trả. Quân đội vua Lưu-ly chiếm thành, chém giết loạn xạ.

Lúc đó tôn giả Mục Liên thần thông quảng đại, dùng thần thông hút 500 người dòng Thích Ca vào trong bát, đưa lên cung trời tỵ nạn. Đợi đến khi hết chiến tranh, mở bát ra, 500 người trong bát trở thành bát máu. Tôn giả Mục Liên thỉnh thị đức Phật nguyên nhân.

Phật kể vào kiếp quá khứ xa xưa, có một thôn trang, trong thôn có một hồ cá lớn: Vào một ngày lễ, mọi người trong thôn kéo cá ăn thịt. Trong đó có một con cá lớn cũng bị bắt. Lúc đó có một đứa trẻ ăn chay, nhưng vì nghịch ngợm đã dùng gậy gõ đầu con cá lớn ba cái. Con cá lớn đời trước chính là vua Lưu-ly bây giờ, các con cá nhỏ chính là đội quân vua Lưu-ly hiện tại, những người trong thôn hiện nay là người dòng Thích ca bị giết, đứa trẻ không ăn cá nhưng gõ đầu cá ba cái chính là ta.

Ta vì không ăn cá nên không bị giết, nhưng gõ đầu cá ba cái nên bây giờ ta bị đau đầu ba ngày. Câu chuyện trên gọi là nhân quả báo ứng, tự làm phải tự chịu, người khác không thay thế được".

Không chỉ thời Đức Phật mà ngày nay chúng ta cũng thấy rõ hậu quả của sự sát sanh là con người khi mạng chung thường có những hành động kỳ lạ như: sủa vang như chó, đập dầu vào tường, trợ mắt hét gào, sợ nước...

Người đệ tử Phật luôn tâm nguyện và thực hành không giết hại chúng sinh. Chẳng những không giết hại mà còn phóng sinh, tích cực bảo vệ sự sống và môi trường xanh sạch.

Tạo nghiệp

Những người thường hành nghề sát sinh thường phải chịu sự chi phối của nghiệp xấu kèm theo là sự bám víu của những linh hồn loài vật đi theo để phá phách.

Sát sinh là hành động mang đến hậu quả không chỉ về thể xác và tinh thần mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh. Vì thế đạo Phật khuyến cáo nên ăn chay để ngưng nghiệp sát để không bị rơi vào vòng vay trả sinh mạng lẫn nhau. Tuy nhiên, ăn chay trường không phải là việc đơn giản bởi chúng ta đã bị nghiệp báo dẫn dắt tái sanh, những phú tàng, thói quen nhiều đời nhiều kiếp về nghiệp ăn mặn, sát hại luôn theo khiến chúng ta nếu không có đủ nghịc lực và sự hiểu biết sâu sắc về đạo Phật khó mà thực hành được.

Nhưng không vì thế mà mà chúng ta lại thuận theo tự nhiên, cho mình cái quyền lấy đi sinh mạng của kẻ khác để làm thỏa mãn thú vui ăn uống của mình. Đại đức Thích Phước Tiến có nói: “Con gì tha được thì tha”. Nếu chúng ta không ăn chay được thì hạn chế khẩu phần thịt hằng ngày để tập dần dần thói quen ăn chay sau này để mang nhiều lợi lạc sau trên con đường tu học giải thoát.

Chúng ta dù là con người hay loài vật cũng là những chúng sanh vô minh đang luân hồi trong sáu nẻo, rồi cũng chết đi theo quy luật tự nhiên, cớ gì sống mà gây đau khổ cho loài khác. Chẳng khác nào hình ảnh mà Đức Phật đã dạy cho đệ tử: Một đàn bò xếp hàng vào lò mổ, nhưng chúng vẫn đấu đá, xô xát lẫn nhau để kết oán thù. Mỗi bữa ăn, một miếng thịt đối với chúng ta là một món ăn nhưng đối với loài vật là cả một sinh mạng của chúng!

Vì thế người đệ tử Phật luôn tâm nguyện và thực hành không giết hại chúng sinh. Chẳng những không giết hại mà còn phóng sinh, tích cực bảo vệ sự sống và môi trường xanh sạch. Dĩ nhiên, trong thực tiễn cuộc sống hạnh lành này rất khó thực hiện một cách vẹn toàn. Việc đầu tiên, để tránh quả báo xấu địa ngục, người đệ tử Phật nguyện không nghĩ và không làm những việc tổn hại đến mạng sống con người. 

Quan trọng hơn, người con Phật cần thường xuyên rải tâm từ, thực hành ăn chay, đặc biệt là thiền quán sâu sắc về Duyên khởi và Tương tức để thấy mình và mọi loài tuy không phải một nhưng chẳng phải hai, bất nhị. Chính tâm từ và tuệ giác Duyên khởi sẽ giúp cho chúng ta thấy được sự thật cần nương vào nhau để tồn tại, sống hài hòa với mọi người, muôn vật và thiên nhiên. Bất cứ sự tàn sát hay tổn hạinào ở bên ngoài cũng chính là tự hại chính mình. Khi cái thấy, tuệ giác đã được nâng lên một tầm cao mới, tự khắc chúng ta sẽ không làm tổn hại, dù cho đó chỉ là loài vô tình.

Theo phatgiao.org.vn

Đại Tạng Kinh Việt Nam

Tháng Năm